<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom" version="2.0"><channel xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"><title>Lich su</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/</link><atom:link xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom" rel="self" href="http://lichsuvn.blog.co.uk/feed/rss2/posts/"/><description></description><language>en-EU</language><generator>MokoFeed</generator><ttl>10</ttl><image><title>Lich su</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/</link><url>http://data5.blog.de/design/preview/bf/06efb85b7676e635424bf29ef55181_160x200.jpg</url></image><item><title>Tra loi Hoang Tung (tiep)</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/03/01/tra_loi_hoang_tung_tiep~1827004/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-03-01:/2007/03/01/tra_loi_hoang_tung_tiep~1827004/</guid><pubDate>Thu, 01 Mar 2007 12:36:28 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;
Trí nhớ ngắn ở chỗ là Hồ chí Minh không bao giờ tự nhận mình là nhà tư tưỏng. Theo ông Nguyễn văn Trấn, người đã có dịp tiếp xúc với Hồ chí Minh, thì họ Hồ thường nói câu : « Tôi không có tư tưởng gì cả. Tôi chỉ là người thực tiễn. Lạt mềm buộc chặt. » ( Nguyễn văn Trấn - Viết cho mẹ và quốc hội ). Vào năm 1920, khi họp hội nghị Tours ở Pháp, Hồ chí Minh còn chưa ở trình độ phân biệt nổi Ðệ Nhị và Ðệ Tam Quốc Tế Cộng sản, điều này do chính Hồ chí Minh viết trong quyển « Cuộc đời Hồ Chủ tịch » tác giả là Trần dân Tiên, chính là Hồ chí Minh.. Khi đảng cộng sản Việt Nam họp Ðại Hội lần thứ Nhì, vào năm 1950,có một ký giả hỏi ông là ông có tư tưởng gì không, thì ông trả lời là ông không có tư tưởng gì cả, đã có Staline và Mao nghĩ hộ. Ông còn thêm là 2 người này không bao giờ sai lầm. Vào năm 1960, tờ báo Nga Sô « Le Pravda » phỏng vấn ông, thì ông cũng nhắc lại là ông đã có Marx và Lénine nghĩ hộ. Thế mà ông Hoàng Tùng cùng một số trí thức Việt Nam không nhớ những sự kiện này, mà còn đưa Hồ chí Minh lên nhà tư tưởng. Không những vậy, mà còn ghi trong Hiến pháp hiện hành : « Ðảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lénin và tư tưởng Hồ chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hộỉ « (điều 4), sự kiện này chứng tỏ đảng cộng sản Việt Nam và một số trí thức cộng sản không ở trình độ để hiểu định nghĩa thế nào là tư tưởng, là nhà tư tưởng. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ðể hiểu rõ vấn đề, tôi xin mạo muội nói sơ về sự hình thành một tư tưởng. Tư tưởng ( la pensée) có được là do nhiều ý tưởng (l’idée) hợp lý và ăn khớp với nhau ( logiques và cohérentes) làm thành. Ý tưởng có được là do nhiều tri giác ( la perception ) hợp lý và ăn khớp với nhau làm nên. Tri giác có được là nhờ ở năm giác quan của chúng ta ( thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và thính giác ). Chẳng hạn ý niệm hay ý tưởng mà chúng ta có về một trái cam, đó là chúng ta thấy nó tròn tròn, màu vàng đỏ ; khi bóc nó ra chúng ta thấy những cái múi nhỏ ; khi nếm, chúng ta thấy vị hơi chua chua, ngòn ngọt ; khi ngửi chúng ta thấy mùi vị thơm thơm. Tất cả những tri giác này tạo cho chúng ta một ý niệm, ý tưởng vế trái cam.. Nhiều tri giác về nhiều vấn đề cho ta nhiều ý tưởng khác nhau. Nhiều ý tưởng về một vấn đề , mà có tính cách hữu lý, ăn khớp với nhau, đồng thời có tính cách mới lạ,và xâu rộng, do một công trình nghiên cứu, thì lúc đó trở thành tư tưởng. Nhiều tư tưởng về nhiều vấn đề, về cuộc sống, về con người, về không gian, thời gian, và có những đặc tính trên, thì trở thành hệ tư tưởng ( l’idéologie).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Chẳng hạn như về kinh tế học, ông A. Senn, giải Nobel Kinh Tế năm 1998, thì được gọi là nhà tư tưởng kinh tế. Nhưng tại sao ? – Vì ông đã quan sát và thấy rằng có một liên hệ giữa nạn chậm tiến, nạn đói với những chế độ độc tài. Từ ý niệm, ý tưởng đó, ông đã bỏ công ra nghiên cứu những nạn đói và nạn chậm tiến ở những nước Á phi chậm tiến trong vòng nửa thế kỷ qua. Cuối cùng ông đi đến kết luận « Không có dân chủ thực sự thì không có một nền kinh tế tốt ( Amartya Senn - Pas de bonne économie sans vraie démocratie. – báo Le Monde, số ngày 28/10/1998). Công trình nghiên cứu này đã đưa ông đến giải thưởng Nobel, ông được coi như một nhà tư tưởng kinh tế. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Tư tưởng và nhà tư tưởng là như vậy. Hồ chí Minh chỉ nhắc lại những ý tưởng của tiền nhân, không có một công trình nghiên cứu xâu xa ; rồi con cháu về sau cho đó là của ông ; mặc dầu chính ông khi còn sống, ông thường nhắc đi nhắc lại là ông không có tư tưởng gì cả, thì không thể nào là nhà tư tưởng. Ngay cả Bản Lên Án Thực Dân bằng tiế ng Pháp ( Le Procès du Colonialisme) mà Hồ chi Minh đã đưa cho Ban Thơ Ký Hội Nghị Versailles họp vào tháng 6 /1919 giữa những Cường Quốc thắng trận Ðệ Nhất Thế Chiến, mà một số người cộng sản cho rằng ông ta là tác giả , là hoàn toàn sai. Theo một số sử gia, thì đó là cụ Phan chu Trinh, Nguyễn thế Truyền, Phan văn Trường viết chung.Chúng ta chỉ cần có một sự suy nghĩ nhỏ là thấy rõ :&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Trong quyển Cuộc Ðời Chủ tịch Hồ chí Minh, tác giả Trần dân Tiên chính là Hồ chi Minh, ông nói rõ trong Hội Nghị Tours họp vào tháng 12/1920, ông nghe tiếng Pháp chữ được chữ không, ông không thể phân biệt nổi Ðệ Nhị và Ðệ Tam Quốc Tế Cộng sản, thế mà 18 tháng trước đó ( tháng 6/1919 - Hội Nghi Varsailles), ông lại là tác giả Bản Lên Án Thực Dân viết bằng tiếng Pháp ( Le Procès du Colonialisme). Có phải những người cho ông là tác giả đã lầm, thiếu suy nghĩ hay không ? Những câu : « Cần, kiệm, liêm, chính » , « Chí công, vô tư « v.v… là những câu mà các cụ xưa thường dậy con cháu, cũng chẳng phải là của Hồ chí Minh, thế mà đảng cộng sản Việt Nam cho là của Hồ chí Minh, có phải là nhận quàng không ?&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;  Trở về việc phê bình bài « Thời Ðại Mới, Tư Tưởng Mớỉ « của ông Hoàng Tùng. Khi phê bình một bài văn, thì chúng ta cũng phải nhìn cả cái sai, lẫn cái đúng. Nhưng ở bài này có quá nhiều điều sai. Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là không có điều đúng. Ðó là một vài câu như : &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; « Từ khi nắm quyền lãnh đạo đất nước, các đảng (đảng cộng sản- lời chú của tác gỉả bài này) trở thành chuyên quyền, người lãnh đạo tuyệt đối. Về danh nghĩa thì nói rằng đảng của giai cấp công nhân, của toàn Ðảng, trong thực tế thì người đứng đầu nắm mọi quyền lực, thông qua tổ chức thực hành mọi quyết định. » ( trang 24/33, dòng 22), hay :&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; « Nói rằng, trong xã hội thường xuyên có sự nhất trí về chính trị và tư tưởng là không đúng sự thật, sự im lặng kéo dài, cuối cùng bỏ mặc cho chủ nghĩa xã hội tan rã, người ta bỏ phiếu bằng đôi chân lũ lượt chạy sang các nước tư bản để làm những việc thấp kém, có khi mất cả phẩm giá con người. » ( trang 25/33, dòng 21), hoặc :&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; « Khi tiếp xúc với các nhà trí thức thuộc phía bên kia ( phía tư bản- lời chú của tác giả bài này ), những người bên này ( bên cộng sản) thường tỏ thái độ trịch thượng, thầy đời, lời dài, ý hẹp « ( trang 22 /33, cuối trang).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Tôi nghĩ câu cuối này nên được áp dụng đầu tiên cho ông Hoàng Tùng, tác giả của bài « Thời Ðại Mới, Tư Tưởng Mớỉ », người mà một số người cộng sản đưa lên hàng « một trong những nhà lý luận tư tưởng Mác Lê hàng đầu Việt Nam. »&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Việt Nam ta có câu : « Mèo khen mèo dài đuôi ». Ông Hoàng Tùng và đảng Cộng sản Việt Nam đưa Hồ chí Minh lên nhà tư tưởng. Một số người khác đưa ông Hoàng Tùng lên hàng một trong những nhà lý luận tư tưởng Mác Lê hàng đầu Việt Nam. Ðây cũng là lẽ thường tình, vì « Mẹ hát, con khen hay. « . Nhưng Hồ chí Minh và ông Hoàng Tùng chỉ là nhà tư tưởng và nhà lý luận đối với những người cộng sản hay thân cộng sản. Chứ dân Việt, theo thiển ý của tôi, không chấp nhận và sẽ không bao giờ chấp nhận Hồ chí Minh là nhà tư tưởng và ông Hoàng Tùng là nhà lý luận . &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ba lê ngày 13/07/2005 &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Chu chi Nam&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/03/01/tra_loi_hoang_tung_tiep~1827004/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>politics</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/03/01/tra_loi_hoang_tung_tiep~1827004/#comments</comments></item><item><title>UNESCO không ra quyết-nghị "Hồ-chí-Minh là nhà văn-hoá"</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/unesco_khong_ra_quya_7871_t_ngha_7883_ha~1797876/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/unesco_khong_ra_quya_7871_t_ngha_7883_ha~1797876/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 17:04:48 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;UNESCO không ra quyết-nghị «Hồ-chí-Minh là nhà văn-hoá»&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tài Liệu Sưu Tầm -Chu chi Nam&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tài liệu đưọc viết theo Font Unicode Times New Roman&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nhắc lại một chuyện cũ của năm 90 để trả lời một số e-mail từ Việt-Nam gởi ra.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;·        Lễ kỷ-niệm 100 năm sanh-nhật của Hồ-chí-Minh do sứ quán Hà-Nội tại Paris thuê phòng của UNESCO và tổ-chức.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Mười năm sau, &lt;strong&gt;báo An-ninh thế-giới (số 177) xuất-bản tại Hà-Nội&lt;/strong&gt;, cho đăng một bài với tựa đề : « &lt;em&gt;Bảo vệ lễ kỷ-niệm 100 năm ngày sinh của Bác Hồ ở trụ sở UNESCO ( Pháp )&lt;/em&gt;  ».&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tại sao «  &lt;strong&gt;bảo vệ&lt;/strong&gt;  » ? Nếu lễ sinh-nhật 100 năm của Hồ-chí-Minh được UNESCO tổ-chức thì phía Hà-Nội không cần phải bảo vệ, bởi vấn-đề an ninh đã được UNESCO đảm trách.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Phải « bảo-vệ » như lời tựa của bài báo viết ( báo công-an ) vì buổi lễ kỷ-niệm ấy đã thật sự không được UNESCO tổ chức, mà hoàn-toàn do Tòa Đại-sứ Hà-Nội tại Paris tự tổ-chức lấy.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Diển tiến sự việc :&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Năm 1987 Đại hội đồng UNESCO đã chấp thuận một quyết-nghị tổ chức lễ sinh-nhật của Hồ-chí-Minh như là một danh-nhân thế-giới ( Nhà giải phóng dân-tộc, nhà văn-hóa ). Theo quyết nghị nầy, UNESCO sẽ trợ cấp cho Hà-Nội một ngân khoảng để ấn-hành tranh ảnh, sách báo nói về sự nghiệp văn-hóa và giải-phóng của Hồ-chí-Minh. Riêng UNESCO tại Paris cũng sẽ tổ-chức lễ kỹ-niệm tại trụ sở với sự tham dự của Ban lảnh đạo UNESCO, đại diện chánh-phủ Pháp và thị-xả Paris.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Sở dỉ quyết nghị nầy được thông qua dể-dàng ở Đại-hội-đồng UNESCO vì ông M’BOW, người Phi-Châu đen, làm Tổng-Giám-Đốc UNESCO có xu-hướng thân cộng-sản đã tích cực vận động các thành viên trong UNESCO THÔNG QUA QUYẾT nghị. Ngay khi Quyết-Nghị được phổ biến, cộng đồng người Việt tại Paris liền lập tức hợp nhau lại tìm phương cách phản đối UNESCO.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Một tổ chức thành hình mang danh xưng là  &lt;strong&gt;Ủy ban tố cáo tội ác Hồ-chí-Minh&lt;/strong&gt; gồm Tổng-thư-ký và nhiều ủy viên. Ông Nguyễn-văn-Trần được các thân hữu ủy nhiệm làm Tổng-thư-ký với sự hợp tác trợ lực tích cực của các ông Trần-văn-Ngô, Chu-vũ-Hoan, Nguyễn-thừa-Thính, Nghiêm-văn-Thạch, Vũ-Hạ,… Ủy ban tiến hành vận động kiều bào ở khắp nơi : Hoa-Kỳ, Úc, Canada và Âu-Châu viết thơ cho UNESCO phản đối Quyết-Nghị sai lầm kia và vạch trần tội ác của Hồ-chí-Minh từ khi nắm chánh quyền ở Hà-Nội và tội ác của chế độ qua các biến cố cụ thể như vụ Nhân-văn giai-phẩm, cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, vụ thảm sát Mậu thân và ở Miền nam sau 1975 học tập cải tạo, đánh tư sản mại bản, đẩy dân đi kinh tế mới, tổ chức vượt biển thu vàng, thảm nạn vượt biển,….&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Đồng thời, Ủy-ban cũng kêu gọi báo chí Việt ngữ hải ngoại sưu tầm tội ác của Hồ-chí-Minh và chế độ Cộng-sản Hà-Nội viết lại và phổ-biến để ngăn chận ảnh-hưởng của Quyết Nghị UNESCO.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ông Nguyễn-văn-Trần liên hệ với Tướng SIMON, Chủ tịch Ủy ban tương trợ Việt-Miên-Lào và Chủ tịch Hội Cựu Đông-Dương ANAÏ để kêu gọi Hội cựu chiến binh Pháp lên tiếng tố cáo tội ác của Hồ-chí-Minh và Đảng Cộng-Sản đã vi phạm nhơn quyền đối với tù binh Pháp sau chiến tranh Đông-Dương. Ông Nguyễn-văn-Trần liên-hệ với Thị-xả Paris và một số dân biểu, Nghị sỉ Pháp am hiểu về chế độ cộng-sản Hà-Nội để yêu cầu họ đặt « những câu hỏi với Chánh phủ  » tại Quốc-hội để có thái độ đối với quyết nghị UNESCO, bởi Pháp là Quốc-gia đón nhận trụ sở UNESCO.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Tình hình thuận lợi :&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Bức tường Bá linh sụp đổ kéo theo khối Cộng-sản Đông-Âu đã ảnh hưởng sâu đậm đến nếp suy nghĩ về Cộng-sản của các nước Âu-châu và cã thế-giới. Ông Frédéric Mayor, người Tây-ban-Nha đắc cử Tổng-Giám-Đốc UNESCO. Ông này am hiểu Cộng-Sản nên không có xu-hướng ủng hộ phe khuynh tả trong UNESCO như ông M’BOW trước kia. Kiều bào ở khắp nơi viết thư gởi về UNESCO có đến hàng hai mươi ngàn thư phản đối, yêu cầu hũy bỏ Quyết Nghị. Số thư này được ông Giám Đốc ĐNA ở UNESCO, cứ đến cuối tuần, chuyển qua cho Đại diện Hà-Nội tại UNESCO.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ông Nguyễn-văn-Trần sưu tầm tài-liệu tại các thư-viện và văn-khố Pháp chứng-minh sự đề cao Hồ-chí-Minh của Hà-Nội như một vĩ-nhân là hoàn-toàn dối trá. Thân phụ của Hồ-chí-Minh vì say rượu phạt đòn làm chết oan một tội nhơn nên bị cách chức chớ hoàn toàn không vì chống Pháp mà từ quan. Sau khi cha bị mất chức, không còn nguồn lợi tức để sinh sống và học hành nên Hồ-chí-Minh bỏ vào Phan-Thiết nhờ Hội Liên-Thành nhận cho làm thầy giáo dạy vở lòng đám trẻ con mà sanh sống qua ngày. Nhưng số học sinh  của một tỉnh lẽ lúc bấy giờ không đủ bảo đảm cho Hồ-chí-Minh một mức sống ổn định nên năm sau đó, Hồ-chí-Minh rời Phan-Thiết vào Sài-Gòn để xuống tàu Pháp làm phụ bếp mà có đồng lương đều đặng và khá hơn.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Hồ-chí-Minh xuống tàu Pháp tại bến Nhà-Rồng ở Sài Gòn hoàn-toàn chỉ nhằm tìm kế sinh nhai cho bản thân và gởi tiền về nước giúp phụ thân.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Cũng dịp này, Hồ-chí-Minh biết có trường thuộc địa đào tạo công chức hành-chánh cho chánh quyền thuộc địa nên vội làm đơn xin vào học để mong sau nầy «  giúp ích nhà nước Pháp » . Đơn xin bị từ chối, vì không đúng theo thủ tục là người xin phải được nhà cầm quyền Pháp ở Việt-Nam giới thiệu.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Qua các văn kiện do Hồ-chí-Minh viết và khai báo ghi nhận Hồ-chí-Minh có nhiều ngày sanh khác nhau. Ngày chết năm 1969 cũng bị Đảng Cộng-Sản thay đổi : Ngài 2 tháng 09 thành ngày 3 tháng 09.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Những chi tiết hộ-tịch nầy đã phơi bày sự &lt;u&gt;thiếu chính xác&lt;/u&gt; và sự &lt;u&gt;dối trá &lt;/u&gt;đã giúp &lt;strong&gt;Ủy Ban Tố cáo tội ác Hồ-chí-Minh thuyết phục UNESCO &lt;/strong&gt;không thể chấp nhận ngày 19-05 là ngày sinh của Hồ-chí-Minh. Một cơ quan văn-hóa và Khoa học của Liên-hiệp-Quốc không thể chấp nhận sự dối trá được .&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Từ đây, UNESCO bắt đầu tin những lời phản-kháng của Cộng đồng người Việt Hải Ngoại và nghi ngờ thành tích của Hồ-chí-Minh là « Nhà văn-hóa ». Bởi không ai hiểu rỏ Hồ-chí-Minh hơn người Việt-Nam và nhứt là người Việt-Nam nạn nhơn của chế độ Hồ-chí-Minh.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Thế là đến trước ngày 19/05/1990, ông Nguyễn-văn-Trần được mời dến UNESCO cùng với Tướng SIMON để UNESCO cho biết Quyết định của họ là không thi hành Quyết-Nghị . UNESCO giải thích là không thể hủy bỏ Quyết Nghị, bởi muốn hủy bỏ phải thông qua Đại-Hội-Đồng, với nhiều thủ tục phiền toái.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tiếp theo đó, UNESCO thông báo cho Hà-Nội biết quyết-định của UNESCO với những chi tiết như sau :&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;-   &lt;strong&gt;UNESCO  không tổ chức lễ 100 năm của Hồ-chí-Minh tại Paris và Hà-Nội.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;-   Cho Tòa Đại sứ Hà-Nội ở Paris &lt;strong&gt;mướn &lt;/strong&gt;một phòng trong trụ sở UNESCO để tự tổ chức lễ Kỹ-niệm ( Hà-Nội muốn thuê 2 phòng, nhưng bị Ủy Ban Tố cáo tội ác Hồ-chí-Minh can thiệp nên sau cùng &lt;strong&gt;chỉ mướn được một phòng &lt;/strong&gt;mà thôi ).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;-   &lt;strong&gt;UNESCO và Chánh quyền Pháp, kể cả Thị-xả Paris không tham dự lễ&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;-   &lt;strong&gt;Ban Tổ chức lễ ( kỹ-niệm 100 năm ) không được lợi dụng để tuyên truyền chánh trị và đề cao « Hồ-chí-Minh là Nhà văn hoá » theo tinh thần Quyết-Nghị.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;-   Thiệp mời không được in hình Hồ-chí-Minh và không được ghi « lễ sinh nhật HCM là một nhà văn hoá »… mà chỉ ghi mời « tham dự buổi văn nghệ ».&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Quyết định không thi hành Quyết Nghị của UNESCO với những ngăn cấm đã được Văn-Chấn, tác giả bài báo của An ninh thế giới, số 177 thừa nhận nguyên văn như sau :&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;« …Điển hình là một số người Việt Nam lưu vong ở Pháp, Mỹ và một số nước đã tụ tập nhau ở Paris thành lập cái gọi là « Ủy Ban chống tôn vinh Hồ-chí-Minh  » ( đúng ra là Ủy Ban Tố cáo tội ác Hồ-chí-Minh ) do các tên Nguyễn-văn-Trần, Nguyễn-thừa-Thính, Chu-vũ-Hoan,…Chúng tích cực vận động một số nhân vật hữu phái trong chánh quyền các nước ký tên vào thư yêu cầu Tổng-thư-ký UNESCO hũy bỏ quyết định kỹ-niệm ngày sinh của Bác. Chúng viết bài cho các báo phản động Việt-Nam xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời Bác…&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Đã sắp đến ngày kỹ-niệm, nhưng Ban lảnh đạo UNESCO vẫn chưa dứt khoát lại còn gây sức ép thuyết phục ta đồng-ý &lt;em&gt;tổ chức kỹ-niệm ở bên ngoài trụ sở UNESCO với lý do nhiều ý-kiến phản-đồi&lt;/em&gt;,….&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Với thái độ kiên quyết của phía ta, lảnh đạo UNESCO không thể bác bỏ, nhưng vì họ bị nhiều sức ép nên đã đề nghị ta chấp nhận một thỏa hiệp : &lt;u&gt;như không treo ảnh Bác trong hội trường, không triển lãm ảnh Bác ở hành lang UNESCO ; trong giấy mời ghi là đến xem văn nghệ&lt;/u&gt;,… &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ba ngày trước lễ kỹ-niệm, tình-hình lại không diển ra như ta mong muốn. Tổng thư ký UNESCO mời đại điện phía ta đến ggặp và yêu cầu hoãn lễ kỹ-niệm với lý-do ta không giữ đúng lời hứa vì trong giấy có in hình Bác và ghi : « Nhân kỹ-niệm 100 năm ngày sinh HCM, danh nhân thế giới,… ». Cuối cùng ta trả lời với ông Tổng thư ký là thay đổi giấy mời… Tuy nhiên, ta cho in 100 giấy mời mới  (để mời người ngoại quốc ) còn giấy cũ gởi cho Việt-kiều yêu nước - Hội của Hà-Nội ) …&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Về phần nội dung buổi lễ, ta có thay đổi chút ít. Đồng chí Đại sứ không đọc bài diển văn dài về Bác mà thay vào đó là Đồng chí Nguyễn-kinh-Tài, Đại sứ bên cạnh UNESCO, đọc bài &lt;u&gt;diển văn ngắn &lt;/u&gt;nói về ý nghĩa lễ kỹ-niệm, đọc quyết-định của Đại-hội-đồng UNESCO về kỹ-niệm 100 năm ngày sinh của Bác. Chủ tịch Hội đồng người Việt tại Pháp ( Hội Việt kiều yêu nước ) phát biểu ý kiến về công lao của Bác đối với dân tộc và thế giới ; cuối cùng là chương trình xem văn nghệ do đoàn cải-lương trong nước phục-vụ  ». ( An ninh thế giới, số 177, trang 14 ).&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Trong phần cuối, Văn-Chấn khoác lác hôm ấy có đến “ 2000 người tham dự, nhờ các võ sĩ ngăn chận những người đến phá ”. Sự thật là hôm ấy có không quá 70 người tham dự lễ do sứ quán Hà Nội tổ chức và hoàn toàn không có ai muốn đến phá và ngăn chận những Việt kiều yêu nước đến tham dự lễ của họ.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nhận xét :&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;-  Buổi lễ 19/05/1990 hoàn toàn do Tòa Đại sứ Hà-Nội tại Paris tổ chức trong một căn phòng của UNESCO do &lt;strong&gt;họ thuê mướn &lt;/strong&gt;;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;-   &lt;strong&gt;Không &lt;/strong&gt;có đại điện của UNESCO và Chánh quyền Pháp đến tham dự ;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;-   Buổi lễ đã &lt;strong&gt;không &lt;/strong&gt;được thực hiện đúng theo tinh thần Quyết-Nghị “ Hồ-chí-Minh là một danh nhân thế-giới ” mà chỉ là một buổi văn-nghệ bình thường ( Đại sứ Phạm-Bình của Hà-Nội không được quyền đọc diển văn và không được quyền nói về Hồ-chí-Minh như là một danh-nhân ) ;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;-   Đảng Cộng-Sản và Hà-Nội đã không biết lấy làm xấu hổ về những hành động lật lộng và gian trá của mình đối với một cơ quan văn-hóa Quốc-tế  ( vụ &lt;strong&gt;tráo trở&lt;/strong&gt; thiệp mời ) mà lại đề cao đó như là thành tích thắng-lợi .&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Điều thiếu xót đáng tiếc của Ủy Ban Tố cáo tội ác Hồ-chí-Minh là &lt;strong&gt;đã không quảng bá sâu rộng thành quả tranh đấu&lt;/strong&gt; là “ &lt;u&gt;UNESCO không thi hành Quyết nghị &lt;/u&gt;”. Bởi nghĩ đã thắng lợi như vậy là đũ rồi !&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Do đó mà 10 năm sau, Hà-Nội mới dám lên tiếng khoe thành tích “ bảo vệ ” lễ kỹ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ-chí-Minh.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nguyễn đông A&lt;br&gt;
(môt thành Viên của Ủy Ban tố cáo tội ác Hồ-chí-Minh)&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/unesco_khong_ra_quya_7871_t_ngha_7883_ha~1797876/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>politics</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/unesco_khong_ra_quya_7871_t_ngha_7883_ha~1797876/#comments</comments></item><item><title>MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ BÀI « THỜI ÐẠI MỚI, TƯ TƯỞNG MỚI » CỦA ÔNG HOÀNG TÙNG</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/ma_7896_t_vai_y_kia_7870_n_va_7872_bai_l~1797826/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/ma_7896_t_vai_y_kia_7870_n_va_7872_bai_l~1797826/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 16:52:44 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ BÀI « THỜI ÐẠI MỚI, TƯ TƯỞNG MỚI » CỦA ÔNG HOÀNG TÙNG &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Chu chi Nam&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;  Gần đây trên mạng lưới Ý Kiến ( &lt;a href="http://www.ykien.net/"&gt;http://www.ykien.net/&lt;/a&gt; ) ngày 23/05/05 có đăng bài “ Thời đại mới, tư tưởng mớỉ « ( Thử suy nghĩ về tiền đồ chủ nghĩa Mác), của ông Hoàng Tùng, cựu Tổng Biên Tập tờ báo Nhân Dân, cựu Phát Ngôn Viên đảng Cộng sản Việt Nam. Sau đây , tôi xin có một vài ý kiến về bài viết trên.  &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Việt Nam chúng ta có câu : « Văn hay chẳng lọ làm dài. Chửa đọc đầu bài đã biết văn hay «. Thật vậy, mới đọc nửa trang đầu bài văn của ông, tôi đã thấy quá dở. Dở về cả hình thức lẫn nội dung.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Về hình thức, thì văn không thành cú, nhiều câu thiếu chủ từ hay động từ, hoặc tối nghĩa, câu văn này tới câu văn kia không ăn khớp ý, hay không có một chuyển ngữ, kiểu các cụ ngày xưa nói : « Vãi tung vãi tóe, vãi ra để cho nó có ». Thêm vào đó lại thích dùng những danh từ dao to, búa lớn.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Về nội dung, thì đưa ra những dữ kiện về tư tưởng, về lịch sử sai trái, không biết ông đã lấy nguồn lịch sử ở đâu, quyển sách nào ; tư tưởng này mâu thuẫn với tư tưởng kia, nghĩ mình là đồ đệ của Marx, nhưng không nắm vững tư tưởng của Marx, ngay cả không nắm vững tiểu sử của Marx và Engels. Suốt một bài dài 33 trang, chỉ nhắc đến Hồ chí Minh một lần ; nhưng câu kết luận kêu gọi mọi người đi theo tư tưởng Hồ chí Minh. Chẳng ăn nhập gì vào thân bài và càng chứng tỏ ông Hoàng Tùng chẳng hiểu tư tưởng là gì, mặc dầu khi ông viết bài trên là ông tự nghĩ mình là nhà tư tưởng ; nếu tôi không võ đoán. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ông Hoàng Tùng viết ngay trang đầu, ở những dòng cuối trang: « Tổng số sinh mạng chết do chiến tranh từ khi nó xẩy ra đến nay, các loại thiên tai, bệnh tật, có thể bằng tổng số dân đang sống. » ( trang1//33). Ông Hoàng Tùng là một người tôn thờ chủ nghĩa khoa học. Nếu nói đến khoa học, thì phải nói đến những con số chính xác, nguồn gốc đích thực, có cơ sở, có dẫn chứng. Không riêng gì ở đây, mà suốt trong toàn bài, ông thường đưa ra những con số không dẫn chứng, không chính xác, không biết xuất xứ từ đâu, dựa vào tài liệu nào, quyển sách nào, công trình nghiên cứu nào. Ông viết : « Tổng số sinh mạng chết … bầng tổng số dân đang sống », mà không đưa ra xuất xứ. Theo thống kê mới nhất thì dân số thế giới hiện nay có vào khoảng 6 tỷ người. Theo câu nói của ông Hoàng Tùng, thì số người chết từ khi có con người tới nay « có thể « là 6 tỷ người. Chưa có một công trình nghiên cứu dân số học nào, chưa có một nhà nhân chủng học, nhà dân số học nào đưa ra con số này, vì tôi chắc chắn rằng họ không có những dữ kiện nghiên cứu đầy đủ, và họ là nhà khoa học thực sự, nên không dám đưa ra những con số bừa bãi, khác hẳn với ông Hoàng Tùng. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ngay cũng trang đầu, dòng 3, ông Hoàng Tùng viết : « Như vậy là phải mất gần 3 triệu năm kể từ khi loài người tách khỏi các loài động vật, đứng thẳng đi bằng hai chân đến nay mới tới ngưỡng cửa một nền văn mình mới này… « Con người tách khỏi các koài động vật », như vậy con người không còn là động vật nữa hả ? Thưa, để cho rõ nghĩa, phải viết « tách khỏi các loài động vật khác ». Cũng như cụm từ « một nền văn minh mới này « , tôi nghĩ chữ « một « ở đây là thừa, nếu « một « thì không có chữ « này «.Ở đây mới ở trang đầu, mặc dầu trang đầu ngoài những tiêu đề, chỉ có 22 dòng, mà đã chứng tỏ trình độ ông Hoàng Tùng quá thấp kém, đưa ra những dữ kiện lịch sử không dẫn chứng, dùng danh từ không chính xác. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ở trang 2/33, dòng 15, ông Hoàng Tùng viết :&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; « Thế kỷ thứ 19, ở nước Ðức hoặc nói cho chính xác hơn là ở ba nước Ðức, Pháp, Anh xuất hiện hai nhà sáng lập triết học duy vật biện chứng và học thuyết cộng sản chủ nghĩa lấy cảm hứng từ triết học cổ điển Ðức, học thuyết kinh tế và học thuyết xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa ở Pháp ». Ở đây ông Hoàng Tùng nói đến « hai nhà sáng lập « , thì ai cũng biết là ông muốn chỉ Marx và Engels. Nhưng tại sao lại nói « hoặc cho chính xác hơn ở ba nước Ðức, Anh, Pháp xuất hiện 2 nhà sáng lập », thực ra cách viết của ông không chính xác, vì nếu hiểu nghĩa « xuất hiện « là sinh ra ở đó, thì 2 người không thể sinh ra ở ba nước, và ai cũng biết rằng cả Marx và Engels đều sinh ra ở Ðức. Câu này chứng tỏ ông Hoàng Tùng không nắm vững nguồn gốc tư tưởng của Marx, và ngay cả tư tưởng của Lénine, vì nếu ai đọc nhiều Lénine, thì đều rõ ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong nhiều tác phẩm của ông rằng tư tưởng của Marx là « Tổng hợp tư tưỏng triết học cổ điển Ðức, tư tưởng kinh tế Anh và tư tưởng xã hội Pháp ». Tại sao ở đây ông Hoàng Tùng nói đến 3 nước Ðức, Anh, Pháp, nhưng sau đó không nói đến tư tưởng kinh tế của Anh, mà lại viết : « học thuyết kinh tế và xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa Pháp ». Ðiều này chứng tỏ ông Hoàng Tùng không nắm vững, chẳng hiểu tư tưởng kinh tế của Marx, mặc dầu chính Marx nhấn mạnh đến yếu tố kinh tế là quyết định. Nếu chúng ta đọc Marx và đồng thời đọc Malthus và Ricardo, 2 nhà kinh tế Anh, mà Marx bị ảnh hưởng rất nặng, thì chúng ta thấy rất rõ cái nhìn bi quan về lịch của Marx là lấy từ Malthus. Malthuc cho rằng dân số tăng theo cấp số nhân ( progression géommétrique), dân số cứ tăng gấp đôi mỗi 20 năm , ở đây ông Hoàng Tùng nói tăng theo cấp số « thiên văn », không phải có nghĩa này không ; trong khi đó thì thức ăn, thức uống, đồ dùng của con người tăng theo cấp số cộng ( progression arithmétique ) ; vì vậy càng ngày số người nghèo càng đông, càng có nhiều nạn đói. Cái nhìn này đã được Ricardo lấy lại và khai triển trong lý thuyết về lợi nhuận hàng năm của đất đai ( rente foncière). Theo Ricardo, thì lợi nhuận đất đai mỗi năm một giảm, trong khi đó số dân mỗi năm một tăng ( quan niệm của Malthus). Mal thus và Ricardo cho rằng các ông chủ đất thì càng ngày càng giàu và dân thì càng ngày càng nghèo, vì thời của Malthus ( 1766 – 1834), ông xuất bản quyển « Thử có một cái nhìn về nguyên tắc dân số » ( Essai sur le principe de la population) vào năm 1789 ; và của Ricardọ (1772 – 1823), ông xuất bản quyển « Những Nguyên tắc của kinh tế chính trị ( Principes d’économie politique) xuất bản vào năm 1817, thời của 2 ông là thời nông nghiệp còn giữ vai trò quan trọng ở bên nước Anh.. Thuyết thặng dư giá trị của Marx (1818 – 1883) là gần như lấy trọn vẹn thuyết lợi nhuận đất đai của Ricardo ; nhưng nay áp dụng vào thợ thuyền, vào thời kỳ kỹ nghệ.. Ðấy là chưa kể lý thuyết về giá trị hàng hóa và tiền tệ của Marx là bị ảnh hưởng xâu đậm bởi Ricardo. Cái nhìn bi quan về lịch sử của Marx là cái nhìn bi quan của Ricardo và Malthus về đời sống nông dân, xã hội phong kiến ; nay Marx chuyển sang đời sống thợ thuyền, xã hội tư bản. Marx viết : « Sự phát triển kỹ nghệ đang đào hố xâu dưới mảnh đất mà giai tầng tư bản đang xây dựng hệ thống sản xuất và tư hữu của mình. Giai tầng tư bản tiên khởi đang tự đào mồ chôn mình. Sự sụp đổ của chế độ tư bản và chiến thắng của giai cấp vô sản là tất yếủ ( K. Marx – Le Manifeste du Parti communiste – trang 34 – Union générale d’Editions – Paris 1962). Trong khuôn khổ bài này tôi không thể phê bình quan niệm cách mạng tất yếu của Marx, xin quí vị xem thêm bài của tôi « Cách mạng tất yếu đã không xẩy ra tại các nước tư bản, mà cách mạng tất tyếu đã xẩy ra và còn xẩy ra ở các nước cộng sản » hay « Sự không tưởng của lý thuyết Marx » hoặc « Sự thiếu khoa học và hồ đồ của Marx theo K. Popper », trên các báo Việt Nam ở hải ngoại, đặc biệt là &lt;a href="http://www.danchu.net"&gt;www.danchu.net&lt;/a&gt; và &lt;a href="http://www.conong.com"&gt;www.conong.com&lt;/a&gt; với bút hiệu Trực Ngôn hay Chu chi Nam . &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Tự nghĩ mình là nhà tư tưởng, vì ông Hoàng Tùng viết « Thời đại mới, tư tưởng mớỉ », và nhất là ông lại nghĩ tư tưởng của mình là khoa học, dựa trên căn bản khoa học của tư tưởng Marx ; tuy vậy ông Hoàng Tùng không những không nắm vững tư tưỏng của Marx và Engels, mà còn không biết rõ tiểu sử của 2 người này. Ông viết tiếp : « Lời kêu gọi chuyển phong trào dân chủ tư sản sang phong trào dân chủ vô sản không được đáp ứng và bị đàn áp, hai nhà lãnh đạo này của giai cấp công nhân ( là Marx và Engels - Lời chú thích của tác giả bài này) bị kết án rồi trục xuất sang Anh suốt đời « ( dòng 36, trang 2/33). Engels có bao giờ bị kết án và bị trục xuất sang Anh, sống ở bên đó suốt đời đâu. Gia đình Engels giầu có, thời đó, người Ðức mà đã có một hãng kỹ nghệ dệt ở Manchester, mang tên kỹ nghệ Ermen-Engels, là như thế nào rồi. Engels lúc đầu sang Anh giúp cha 2 năm (1842-1844), rồi sau này, ông sang Anh sống luôn từ năm 1870, làm chủ hãng cho tới chết vào năm 1895, thế mà ông Hoàng tùng lại viết ở trang 3/33 dòng 26 : « Engels ở Manchester làm thuê để sống và giúp gia đình bạn ». &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Càng đọc thêm bài của ông Hoàng Tùng, càng nghe những lời tâng bốc ông như « một trong những nhà tư tưỏng và lý luận lý thuyết Marx hàng đầu Việt Nam », lời của ông cựu đại tá cộng sản Bùi Tín ở đài RFA và ở Buổi Hội luận về lịch sử cận đại Việt Nam đươc tổ chức vào ngày 25/04/05 tại trụ sở Quốc Hội Pháp, tôi càng đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác.Không những chẳng hiểu định nghĩa của chữ tư tưỏng ( Tôi sẽ nói tư tưởng là gì và Hồ chí Minh có phải là nhà tư tưỏng không, ở phần sau), không nắm vững tư tưởng của Marx, mặc dầu tiêu đề của bài là « Thử suy nghĩ về tiền đồ chủ nghĩa Marx), ông Hoàng Tùng còn viết văn không thành câu, thành cú..&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ông viết : « Trong cuộc cách mạng dân chủ ở Pháp là tiêu biểu điển hình cách mạng dân chủ tư sản » ( dòng 14, trang 4/33), theo văn phạm, nếu bắt đầu bằng chữ « trong « , thì danh từ tiếp theo sau là túc từ gián tiếp chỉ nơi chốn hay thời gian ; như vậy thì đâu là chủ từ của động từ « là « của câu trên, vì « trong cuộc cách mạng », thì không thể nào vừa làm túc từ gián tiếp vừa làm chủ từ cho động từ « là ». &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ông còn viết : « Mác biểu dương nhân dân Paris xung phong tận trời xanh » ( cuối trang 9/33). Tôi không hiểu cụm từ « tận trời xanh » là những từ dùng cho tư tưỏng hay lịch sử hoặc để tả tình, tả cảnh ; nếu để tả tình, tả cảnh thì ông Hoàng Tùng có ở đó đâu mà thấy tận trời xanh ; nếu là những từ dùng cho lịch sử và tư tưởng, thì chẳng có tính cách tư tưởng và lịch sử ở chỗ nào. Hơn thế nữa, về nghĩa và văn phạm cũng không ổn. Cụm từ « tận trời xanh » đươc dùng như trạng từ để phụ nghĩa cho một động từ, nhưng ở đây phụ nghĩa cho động từ nào, nếu động từ « xung phong », thì « xung phong tận trời xanh » là xung phong thế nào ; nếu phụ cho động từ « biểu dương » , thì « biểu dương tận trời xanh « là biểu dương thế nào.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Và cứ như vậy chúng ta gặp suốt bài rất nhiều đoạn văn không thành câu, thành cú.. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Về dữ kiện lịch sử, ông Hoàng Tùng viết : « … và sự ra đời của máy hơi nước vào cuối thế kỷ thứ 18 « ( dòng 21 trang 2/33). Dạ xin thưa, để chính xác hơn, thì nhà bác học Pháp Denis Papin ( 1647-1714) đ ã phát minh ra máy hơi nước có piston ( machine à vapeur à piston) ở Kassel, Ðức vào năm 1687, tức cuối thế kỷ thứ 17, và ông đã thành công để làm chạy máy hơi nước này vào năm 1707, tức đầu thế kỷ thứ 18, chứ không phải cuối thế kỷ 18 như ông Hoàng Tùng nói.. Ðồng thời lúc đó nhà bác học Anh Thomas Newcomen cũng sáng chế ra máy hơi nước và ứng dụng máy này vào năm 1712, tức đầu thế kỷ 18. Vào cuối thế kỷ thứ 18, năm 1767, thì nhà bác học, cũng người Anh, J. Watt hoàn chỉnh máy hơi nước cho tốt hơn. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Cũng về dữ kiện lịch sử, ông Hoàng Tùng viết : &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; « Trong thế kỷ 20 – Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và các nước chịu tác động của nó đã bao phen làm đảo lộn thế giới : chọc thủng một dinh lũy lớn của chủ nghĩa đế quốc toàn cầu – Cách mạng tháng 10 – đánh thắng chủ nghĩa phát xít quốc tế, nếu không các nước tư bản chủ nghĩa còn lại nhất định bị ba nước phát xít xơi tái. » (cuối trang 5/33). Câu văn rất là tối nghĩa ; động từ « xơi tái » là ngôn từ của lịch sử, của tư tưởng hay là ngôn từ của ngành nào ; nhưng ở đây chúng ta không nói vế hình thức, mà chỉ nói về nội dung . Dựa trên những dữ kiện nào mà ông dám xác quyết : « nhất định bị 3 nước phát xít xơi tái. » &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ông viết thêm : &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; « Mussolini tiến công nhiều nước dân chủ. Ðưa ra thuyết khối thịnh vượng chung Ðại Bảo Á, thực chất là thiết lập không gian sinh tồn của mình, Nhật phát động cuộc chiến chống Trung quốc, bắt đầu từ Mãn châu năm 1931, mở rộng ra Bắc kinh năm 1937, phối hợp nhịp nhàng với Ðức và Italia, phát động chiến tranh ra toàn vực châu Á, Thái Bình Dương » ( giữa trang 12/33).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ông Hoàng Tùng thích nói đến khoa học, khoa học lịch sử, ; nhưng nếu nói đến khoa học lịch sử thì chúng ta phải dùng những danh từ chính xác, những dữ kiện lịch sử chính xác. Tôi không hiểu Mussolini « tiến công nhiều nước dân chủ « đây là những nước nào. Ngay cả từ « tiến công » cũng không chính xác. Nước Ý tuyên chuyến với nước Pháp ngày 10/6/1940, 6/4/1941 với Nam Tư, 9/12/1941 với Hoa Kỳ và 29/12/1941 với Nga Sô.. Ý tấn công nước Hy lạp vào tháng 10/ 1940 ; nhưng bị thất bại nặng nề ở đây. Sau đó Hitler phải gửi quân nhảy dù đến giải cứu vào tháng tư và tháng 5/1941 ; vua và chính quyền Hy Lạp phải chạy qua Anh, nhưng dân tộc Hy lạp đã kháng chiến anh dũng, làm tổn thất nặng nề cho đoàn quân nhảy dù của Hitler.Nước Hy Lạp lúc đó là dưới thể chế quân chủ, dưới quyền của vua Georges II, đâu có phải là nước dân chủ. Mussolini có gửi quân sang tấn công các nước Phi châu như Somalie, Soudan, Kénya, Ethiopie ; nhưng những nước này là những nước thuộc địa.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ðiều tôi muốn bàn là vấn đề « các nước tư bản chủ nghĩa còn lại nhất định bị ba nước phát xít xơi tái » và vấn đề thứ hai là ba nước phát xít có « phối hợp nhịp nhàng » không, theo như ông Hoàng Tùng xác quyết. Xin thưa là không cho cả 2 trường hợp.  &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Vấn đề « ..các tư bản còn lại nhất định bị ba nước phát xít xơi tái » : Ở đây ông Hoàng Tùng không nói rõ các nước tư bản còn lại là những nước nào ; nhưng lúc đó, ngoài 3 nước phát xít, 3 nước tư bản lớn là Hoa Kỳ, Anh và Pháp. Nước Pháp bị Ðức tấn công và bị thua trong vòng 1 tháng 12 ngày, từ ngày 10/5 đến khi ký hiệp ước đình chiến với Ðức, vào ngày 22/06/1940. Ở đây chúng ta không thể đi vào chi tiết lý do bại trận của Pháp. Nhưng đại để có 3 nguyên do chính : &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;1) Ðó là lòng dân chán sợ chiến tranh, muốn có hòa bình bằng bất cứ giá nào. Vì vậy nên Churchill có nói : « Quí vị muốn sống yên thân, hòa bình, ngay dù trong nhục nhã. Kết quả, quí vị không chỉ có chiến tranh, mà quí vị còn có thêm nhục nhã. ». &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;2) Lý do thứ hai đưa ra bởi De Gaulle : Ðó là nước Pháp đã hết những thanh niên ưu tú, vì họ đã chết quá nhiều trong thời Ðệ Nhất Thế Chiến ; 3) Lý do thứ 3 đó là sự lầm lẫn trong chiến lược phòng thủ của Pháp : Bộ Tham Mưu và Bộ Quốc Phòng Pháp từ sau Ðệ Nhất Thế Chiến cho tới khi Ðệ Nhị Thế Chiến bùng nổ, đều là tướng lãnh đã thắng Ðệ Nhất Thế Chiến, đặt ưu tiên cho phòng thủ thụ động (défense immobile), trận địa, dồn ngân sách quốc phòng cho những công trình này, và xao nhãng phòng thủ di dộng ( défense mobile) như việc chế tạo, trang bị nhiều xe tăng và máy bay. Ðó là lời yêu cầu của tướng De Gaulle, nhưng đã bị từ chối. Ngược lại, phía Ðức, Hitler chủ trương phòng thủ lưu động, chủ trương chiến tranh chớp nhoáng, đánh mạnh và đánh mau.. Chính vì vậy mà đưa đến việc thua trận của Pháp. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên nhớ là Hitler mới lấy được nửa nước Pháp ; còn nửa phía Nam vẫn thuộc về chính phủ Pétain. De Gaulle có nói : « Nước Pháp mới thua một trận, nước Pháp chưa thua chiến tranh. » &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Phía Anh, công nhận Anh có gửi quân qua giúp Pháp, có một vài trận đụng độ nhỏ với quân Ðức ; rồi sau đó quân Anh rút về Anh qua ngõ Dunkerque. Chúng ta chưa có thể nói là quân Anh, ngay cả lục quân, là thua trận. Về hải quân, trước đó mấy năm, Hitler có ký một hiệp ước với Anh công nhận sự hơn trội của hải quân Anh, với ý định câu giờ để tăng cường hải quân. Tuy nhiên cho đến lúc Ðại Chiến Thứ Hai bắt đầu, thì hải quân Ðức vẫn thua hải quân Anh. Bằng cớ là vào tháng 7/1940, Hitler định đổ bộ hải quân qua tấn công Anh, với chiến dịch Seelowe ; nhưng sau đó phải hủy bỏ, vì Hitler biết rõ hải quân Ðức thua hải quân Anh. Về sau, Hitler đã cho đóng và hạ thủy chiếc tàu Bismark với khẩu đại bác khổng lồ, có ý định là sẽ hạ tất cả các tàu trên biển. Nhưng đây là một việc làm, nếu không nói là điên rồ, thì cũng là không tính toán kỹ càng, vì không nghĩ đến đoàn tàu hộ tống và hải cảng tiếp liệu và ẩn náu ( port d’attache). Vừa mới hạ thủy một thời gian ngắn, chiếc Bismark đã bị hải quân Anh đánh chìm, vì 2 lý do trên. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Về không quân, những lời tuyên bố của thống chế Goering, Tổng Tư Lệng không quân Ðức, theo đó Ðức sẽ làm chủ không phận nước Anh, lời tiên đoán này đã khác hẳn với thực tế ; nếu chúng ta nghiên cứu về Ðại Chiến Thứ Nhì và những trận không chiến giữa Anh và Ðức. Trong khuôn khổ bài này, tôi không thể đi xâu vào chi tiết. Ðại để, không quân Anh hơn hẳn không quân Ðức vì những lý do sau : &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;1) Anh đã phát minh ra « radar », trong khi đó Ðức chưa có, nên những đoàn phi cơ Ðức đã được phát hiện trước khi tới Anh, không quân Anh đã sửa sọan sẵn sàng để nghênh chiến ;&lt;br&gt;
2) Về kỹ thuật, phi cơ Anh hơn phi cơ Ðức ;&lt;br&gt;
3) Về phi công, phi công Anh có kinh nghiệm hơn phi công Ðức, vì phi công Anh đã thao luyện ở chiến trường Phi châu, chẳng hạn như dẹp loạn ở Nam Phi. Không quân Ðức mới được thành lập sau này khi Hitler lên nắm quyền, vì theo Hòa Ước Versailles 1919, Ðức không có quyền tái võ trang. Khi lên nắm quyền năm 1933, Hitler không thi hành hòa ước này.. Từ năm 1933 tới năm 1940, chỉ là 7 năm , thời gian quá ngắn để có thể có những phi công kinh nghiệm, trong khi đó thì không quân Anh đã có từ lâu và không có một hiệp ước, một cường quốc nào có thể cấm cản tăng cường. Trận không chiến Anh-Ðức bắt đầu vào ngày 10/7/1940 ; mặc dầu kéo dài mãi về sau với những hỏa tiễn mang bom như V1, V2 ; nhưng Ðức đã thua về không chiến ngay từ lúc đầu. Ðây là tiếng chuông báo tử đầu tiên cho Ðức.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Trở về câu của ông Hoàng Tùng : « …, nếu không các nước tư bản chủ nghĩa còn lại nhất định bị ba nước phát xít xơi tái ». Câu này hoàn toàn sai vì nó không dựa trên một căn bản khoa học lịch sử nào, mặc dầu ông Hoàng Tùng thích nói tới khoa học. Hơn nữa ông còn dám xác quyết « nhất định ». Ngay đối với Anh, Ðức còn chưa có thể » xơi tái « . Huống chi, về sau này, khi Hoa kỳ tham chiến, thì sự bại trận của ba nước phát xít đã trở nên quá rõ rệt. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Về nước Ý, nước này bị coi là nước thấp kém nhất về quân sự trong 3 nước phát xít ; mặc dầu Mussolini được Hitler coi như bậc đàn anh, vì chế độ phát xít là do Mussolini thành lập đầu tiên ở Ý năm 1921 ( thành lập đảng phát xít), nắm quyền cuối năm 1922. Ý chính thức bước vào Ðại Chiến Thứ Hai bên cạnh Ðức, khi tuyên chiến với Pháp ngày 10/6/1940, tuyên chiến với Hoa kỳ ngày 9/12/1941, với Nga Sô ngày 29/12/1941. Tháng 8/1940, Ý xâm chiếm Somalie (Phi Châu), một nước không phòng bị, thuộc địa của Anh, vì quân đội Anh đã rút khỏi ở đây. Quân Ý vào Soudan và Kénya, tràn sang Ethiopie và Lybie, định từ 2 nước này làm thành một gọng kìm đánh xuống Ai Cập ( l’Egypte) tiến về Alexandrie của Ai Cập, không ngờ quân Ý bị sa lầy ở Ethiopie và Lybie. Quân của Thống Tướng Ý Grazini bị chận lại bởi quân của Tướng Anh Wavell. Quân Ý đi đến thất trận vào cuối tháng 12/1940, đầu tháng 1/1941. Tháng 10/1940, Ý tấn công Hy Lạp ; nhưng bị thảm bại ở đây vì dân Hy Lạp kháng cự mãnh liệt, và phải cầu cứu tới Hitler vào tháng 1/1941. Hitler, sau khi thua không chiến với Anh trên thực tế, bỏ kế hoạch tấn công Anh, sửa sọan kế hoặch tấn công Nga ; và mặc dầu dầu Hitler chưa quan tâm đến vùng Ðịa Trung Hải và Phi Châu ; nhưng để cứu danh dự Mussolini, bậc đàn anh của mình, Hitler buộc phải gửi sư đòan thiết giáp Panzer, chỉ huy bởi Rommel vào Lybie để cứu quân đội Ý. Chính vì vậy mà kế hoặch Barbarossa tấn công Nga Sô, dự trù vào tháng 5/1941, phải dời lại vào ngày 21/06/1941, làm cho tới gần mùa đông hơn ỏ Nga. Ðây cũng là một trong những lý do đưa đến sự thất trận của quân Ðức ở Nga Sô. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Về nước Nhật : nước này đã chiếm Mãn châu từ năm 1931, và đi xâu vào nội địa, chiếm những thành phố lớn vào năm 1937 ; nhưng bị kháng cự mãnh liệt của dân Tàu, rồi bị sa lầy ở đây cho tới khi phải đầu hàng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Nhật có đổ bộ vào Ðông Dương với sự chấp nhận bị ép buộc của chính quyền bảo hộ Pháp Pétain, đổ bộ vào Miến Ðiện, Phi luật Tân. Tuy nhiên theo những nhà chuyên môn về quân sự, thì đây chỉ là chiến trường phụ. Chiến trường chính của Nhật vẫn là nước Tàu, mà Nhật bị sa lầy ở đây.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Về trận Chân Châu Cảng ( Pearl Habour) mà Nhật tấn công bất ngờ Hoa kỳ vào ngày 7/12/1941, thì đây vẫn là một bí hiểm lịch sử ( l’énigme historique), vì vào thời buổi này, Hoa Kỳ đã có một hệ thống điện đài nghe lén « téléphone » rất tinh vi và hữu hiệu. Những trận thủy chiến sau này giữa Nhật và Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương mà quân đội Hoa Kỳ đã thắng, một phần là nhờ những điện đài này, giúp cho hải quân Hoa Kỳ biết lộ trình của hải quân Nhật, để sửa soạn tránh né hay tấn công trước. Hỏi như vậy, thì tại sao Hoa Kỳ lại không biết Nhật sẽ tấn công Chân Châu Cảng, ngày giờ thì không chắc, nhưng ít ra cũng biết là sẽ bị tấn công. Vì vậy, có giả thuyết cho rằng chính phủ Hoa Kỳ để cho Nhật tấn công, để thay đổi dư luận dân Hoa Kỳ ; và như thế, chính phủ Hoa Kỳ của tổng thống Roosevelt mới có thể tham chiến. Chúng ta nên nhớ là trong chương trình ra tranh cử tổng thống vào năm 1940, tổng thống Roosevelt hứa với dân Hoa Kỳ là không tham chiến Ðệ Nhị Thế Chiến. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ông Hoàng Tùng viết về Ðệ Nhị Thế Chiến : « Nhật phối hợp nhịp nhàng với Ðức và Italia, phát động chiến tranh ra toàn khu vực châu Á, Thái Bình Dương ».Dạ thưa không, Nhật không phối hợp nhịp nhàng với Ðức và Ý ; và chúng ta có thể nói cả ba nước phát xít không phối hợp nhịp nhàng, nước nào cũng muốn chiếm một vùng làm bá chủ riêng. Tôi xin dẫn chứng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Sự phối hợp giữa Ðức và Ý : Như trên tôi đã nói, Ý thấy Ðức chiến thắng ở nhiều nơi, nên Mussolini cũng gửi quân sang chiếm Hy lạp, chiếm một vài nước Phi châu, nhưng bị sa lầy ở đó, phải cầu cứu tới Hitler. Ðể gỡ danh dự cho Mussolini, Hitler phải gửi quân sang tiếp cứu, mặc dầu Hitler chưa quan tâm với vùng Balkan và Phi châu, làm cho kế hoặch tấn công Nga Sô bị chậm trễ hơn 1 tháng. Mùa đông ở Nga tới cận hơn, một trong những lý do chính làm cho quân Hitler thất bại ở đây. Như vậy chứng tỏ không có sự phối hợp nhịp nhàng giữa Ðức và Ý.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Sự phối hợp giữa Nhật, Ðức và Ý : Nếu ai đọc lịch sử Tàu cận đại, thì đều rõ giữa Tưởng giới Thạch, Mussolini và Hitler có một mối giao hảo thân tình, bạn bè thân thiết. Mussolini đã tặng một chiếc máy bay cá nhân đặc biệt cho họ Tưởng. Có nhiều cố vấn của Hitler giúp Tưởng trong quân đội. Tưởng tổ chức quân đội và thanh niên phát xít Tàu là theo Ý và Ðức. Khi Ðại Chiến bắt đầu, Tưởng muốn đứng trung lập. Quân đội Nhật đánh xâu vào nội địa Tàu, làm Tưởng ngả về phía Hoa Kỳ. Việc này làm Ðức và Ý rất bất bình Nhật. Hitler đã đề nghị với Nhật một chiến lược gọng kìm để đánh Nga Sô : Ðể cho Tàu đứng trung lập, Nhật cùng Ðức đánh Nga ; Nhật tiến quân từ phía Mãn châu, Á châu ; Ðức tiến quân từ phía Âu châu, làm một gọng kìm kẹt Nga Sô ở giữa ; nhưng Nhật từ chối, làm Ðức phải đánh một mình. Nhật không những không nghe lời Hitler, mà còn không tuyên chiến với Nga Sô cho tới khi đầu hàng. Nga Sô chỉ tuyên chiến với Nhật sáu ngày trước khi Nhật đầu hàng, tuyên chiến ngày 9/8/1945, ngày trái bom nguyên tử thứ nhì bỏ xuống Nagashaki, trái bom trước bỏ xuống Hiroshima ngày 6/8. Nhật đầu hàng ngày 15/8/1945. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Những dữ kiện trên chứng tỏ câu nói của ông Hoàng Tùng rằng « Nhật phối hợp nhịp nhàng với Ðức và Italia « là không có cơ sở khoa học lịch sử.  &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Về Marx và Engels, theo nguyên tắc 2 người này ông Hoàng Tùng phải biết rất rõ tiểu sử, vì ông ca tụng 2 ông này, thế mà ông đưa ra những dữ kiện về tiểu sử hoàn toàn sai. Ông viết : « Hai ông ( tức Marx và Engels - lời chú giải của tác giả bài này) bị tòa án nước Ðức và trục xuất khỏi nước Ðức » ( trang9/33, dòng 25). Chỉ cần trong một câu ngắn của « một trong những nhà tư tưởng và l ý luận Mác Lê hàng đầu Việt Nam « , chúng ta cũng thấy lỗi về cả nội dung lẫn hình thức. Hai ông bị tòa án Ðức làm cái gì, ở đây thiếu động từ. Nếu bảo tòa án Ðức trục xuất thì sai về nghĩa, vì tòa án chỉ kết án, rồi chính quyền thi hành bản án mới trục xuất. Về nội dung, sự kiện lịch sử, Engels không bao giờ bị tòa án Ðức kết án và bị chính quyền Ðức trục xuất.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Liền sau đó trong cùng một trang, xuống dòng, ông viết : « Lúc đầu Marx ở Luân Ðôn, Engels ở Manchester làm thuê để sống và giúp gia đình bạn » Dạ thưa, Engels giúp Marx, đồng ý ; nhưng Engels không làm thuê, mà làm cho hãng kỹ nghệ dệt của gia đình mình, mang tên Ermen-Engels ở Manchester. Chúng ta nên nhớ vào giữa thế kỷ thứ 19, một gia đình Ðức mà có một hãng kỹ nghệ dệt ở bên Anh, thì giầu có như thế nào. Hơn thế nữa, Engels kết án chủ bóc lột, bênh vực thợ ; nhưng không bao giờ áp dụng những lý tưởng mà mình kêu gào, theo đuổi, vào chính hãng xưởng của gia đình mình, và về sau là của chính mình.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Cũng trong trang 9, dòng 28, ông Hoàng Tùng viết : « Ông ( tức Marx-lời chú giải của tác gỉ bài này), ngã gục, từ giã cõi đời năm 1883 ». Tôi không hiểu từ « ngã gục » dùng ở đây là một từ lịch sử hay là một từ gì. Nếu về lịch sử, thì hoàn toàn sai về sự kiện lịch sử.. Marx không ngã gục, mà Marx chết vì bệnh lao phổi, một thứ bệnh thịnh hành ở Âu châu lúc bấy giờ, và vào thời này cho tới khi Marx chết, mới phát minh ra thuốc chữa. Hơn thế nữa, trước khi chết, Marx có đi dưỡng bệnh ở Algérie từ tháng 2 tới tháng 5 / 1882. Marx qua Pháp, lấy tàu thủy ở Marseille rồi qua Algérie, theo lời khuyên của bác sĩ và của con cái, vì khí hậu ở Anh ẩm ướt, khí hậu ở Algérie khô có lợi cho phổi. Sau khi dưỡng bệnh ở Algérie, Marx trở về Anh, thăm con cái, rồi chết trên một cái ghế bành, chứ không phải « ngã gục », vào tuổi 65, vì Marx sinh năm 1818 và chết năm 1883. Tuổi 65 là thọ vào thời này, cuối thế kỷ 19, vì tuổi thọ trung bình của Âu châu vào đầu thế kỷ 20 là mới chỉ là 50.  &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ở trang 18, ông Hoàng Tùng viết : « Sự can thiệp của con người không thể phá bỏ qui luật, một chế độ kinh tế xã hội chỉ có thể thay đổi do sự phát triển đến hạn của kỹ thuật sản xuất và một nền văn hóa phù hợp. Cái con người có thể thay đổi là thế lực và thể chế quyền lực song cũng có giới hạn, quá khứ sẽ giành lại nếu đi quá xa. » (trang 18/33, dòng 5). Ở đây ông Hòang Tùng chưa hiểu rõ định nghĩa chữ qui luật, qui là qui tắc ( règles), luật là luật lệ ( lois). Có 2 loại qui luật : qui luật tự nhiên như nước xôi ở 100 độ c, đông đặc ở 0 độ, trái đất quay chung quanh mặt trời, vạn vật bị chi phối bởi sức hút của trái đất v.v… Những qui luật tự nhiên đó, con người không thể thay đổi, xóa bỏ được ; nhưng cũng có những qui luật do chính con người làm ra, thì nó có thể thay đổi và xóa bỏ chứ, như luật hiến pháp, một thứ luật cao nhất trong các luật của một quốc gia, luật ly dị, luật đi đường, luật ngân hàng v.v.. ; những thứ qui luật này con người có thể thay đổi và xóa bỏ chứ, như luật ly dị, trước kia khó khăn, bây giờ dễ dãi, như luật đi đường, có nước ưu tiên cho tay phải, có nước ưu tiên cho tay trái. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ông Hoàng Tùng viết tiếp : « Cái con người có thể thay đổi là thế lực và thể chế quyền lực song cũng có giới hạn… » Chỉ cần 2 câu liền nhau chúng ta đã thấy mâu thuẫn. Hỏi thể chế quyền lực là cái gì nếu không là hiến pháp, luật lệ hay qui luật của một chế độ. Câu trước nói « con người không thể xóa bỏ những qui luật », liền câu sau nói : « cái con người có thể thay đổi là thế lực và thể chế quyền lực » ; hay tại vì ông dùng danh từ mà không hiểu rõ định nghĩa của nó, thưa ông Hoàng Tùng, « một trong những nhà tư tưởng và lý luận Mác Lê hàng đầu Việt nam » ? Có lẽ là hàng đầu của đảng cộng sản Việt Nam, chứ tôi không nghĩ dân Việt lại có một nhà tư tưởng và lý luận quá thấp kém như thế này. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Hơn thế nữa, là nhà lý luận tư tưởng Mác Lê, nhưng ông không nắm vững tư tưởng của Marx. Marx chia xã hội ra làm 2 tầng kiến trúc : hạ tầng và thượng tầng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Hạ tầng gồm sức sản xuất, kỹ thuật sản xuất và tương quan sản xuất. Thượng tầng là hình thức tổ chức chính quyền, luật lệ, nghệ thuật, tư tưởng, triết học và tôn giáo. Marx cho rằng hạ tầng quyết định thượng tầng, khi hình thái tổ chức sản xuất kinh tế thay đổi, thì thượng tầng tự động phải thay đổi theo ; nếu không hạ tầng sẽ phá vỡ thượng tầng cũ để tạo ra cho mình một thượng tầng mới. Marx có dùng một hình ảnh để chỉ rõ thượng tầng và hạ tầng : đó là thượng tầng được ví như bình chứa ; hạ tầng được ví như chất chứa ; hạ tầng như rượu và thượng tầng như chai đựng rượu. Nếu chất chứa thay đổi, lớn mạnh ra, Marx cho rằng sức sản xuất kinh tế mỗi ngày một lớn mạnh thêm, mà bình chứa tức thượng tầng, tức thể chế, quyền lực không lớn mạnh theo, thì chất chứa sẽ phá vỡ bình chứa. Ðây cũng là quan niệm cách mạng của Marx, vì ông cho rằng cách mạng chỉ là sự thay đổi những hình thái sản xuất kinh tế ( mode de production économique). Theo đúng tinh thần tư tưởng của Marx, thì sự thay đổi thượng tầng tức thể chế quyền lực chỉ là hậu quả tất yếu của sự thay đổi hạ tầng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ông Hoàng Tùng viết : » Cái con người có thể thay đổi là thế lực và thể chế quyền lực. » Theo đúng nghĩa câu này thì con người chỉ có thể thay đổi « thế lực và thể chế quyền lực » thôi à ?&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; - Không, con người còn có thể thay đổi nhiều cái khác. Nhất là theo đúng tinh thần tư tưởng của Marx, thì cái mà con người cần thay đổi chính là hạ tầng cơ sở kinh tế, và một khi hạ tầng cơ sở kinh tế thay đổi rồi, thì thượng tầng tự động thay đổi theo, nếu không thì hạ tầng sẽ phá vỡ thượng tầng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ở đây tôi cũng xin mở một dấu ngoặc để phê bình qua về quan niệm thượng tầng và hạ tầng của Marx, để cho rõ vấn đề. Nhìn một cách sơ qua thì chúng ta thấy cách phân chia này rõ ràng, khoa học, tầng trên, tầng dưới. Nhưng nếu chúng ta xét xâu vào vấn đề thì không rõ ràng và khoa học một chút nào, vì ở hạ tầng có sức sản xuất là con người, có kỹ thuật sản xuất là trí óc con người, nó dính liền lên thượng tầng. Bảo rằng chỉ có hạ tầng ảnh hưởng lên thượng tầng ; hay chỉ có thượng tầng ảnh hưởng xuống hạ tầng là không đúng. Thực ra là có ảnh hưởng hỗ tương, tương tác. Ở điểm này, một nhà tư tưởng Marx, theo đúng nghĩa của nó, chứ không phải nhà tư tưởng Marx như ông Hoàng Tùng ; đó là ông Gramsci, người thành lập ra đảng cộng sản Ý, người vừa là bạn của Mussolini và cũng bị Mussolini bỏ tù. Gramsci đã phê bình tư tưởng của Marx, cho rằng cách nhìn của Marx về xã hội có tính chất phiếm diện và máy móc. Theo Gramsci, xã hội không phải chia ra làm 2 tầng, mà chia ra làm 3 tầng. Ngoài thượng tầng và hạ tầng, còn một tầng ở giữa. Ðó là tầng « vùng ảnh hưởng » ( sphère d’influence), bao gồm tất cả những ưu tú của xã hội trong mọi ngành nghề, mọi lãnh vực. . Vùng ảnh hưởng này vừa ảnh hưởng xuống hạ tầng, vừa ảnh hưởng lên thượng tầng, và đồng thời dẫn đường, chỉ lối cho xã hội , cũng như tạo ra những biến đổi xã hội, những khúc quanh lớn của xã hội, nếu tiến triển của xã hội bị tắc nghẽn. Gramsci còn cho rằng sự hiểu biết của Marx có quá tính cách sách vở ( connaissances livresques), thiếu sự hiểu biết qua chiêm nghiệm ( connaissances par méditattion). Chính sự hiểu biết qua chiêm nghiêm, theo Gramsci, tìm ra ánh sáng chân lý, khác hẳn hiểu biết qua sách vở có tính cach máy móc, không mấy sáng tạo và không uyển chuyển. ( Xin xem thêm Sự hồ đồ của Marx theo Karl Popper – bài của tác giả bài này). &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Trở về bài « Thời đại mới, tư tưỏng mới. », Ông Hoàng Tùng viết :&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; « Riêng nước Mỹ một năm sản xuất được 50.000…. chiếm 1/5 của cải toàn cầủ ( Dòng 26 trang 27/33). Tôi xin nói ở đây tôi chép lại nguyên văn của ông Hoàng Tùng, không thiếu một dấu chấm, vì 50.000 có 4 cái chấm theo sau. Chỉ cần một câu rất ngắn như trên, chúng ta đã thấy rõ trình độ hiểu biết cùng sự hồ đồ, liều lĩnh, không có một tý gì là khoa học của ông Hoàng Tùng. 50.000 là 50.000 cái gì, là 50.000 tỷ $ hay 50.000 cái xe hơi, 50.000 cái tòa nhà chọc trời ? Nếu không biết là cái gì mà lại thay thế bằng bốn cái chấm, thì đừng nên nói. Ông không biết là 50.000 cái gì, thế mà ông dám viết liền câu sau « chiếm 1/5 của cải toàn cầu « Nếu đó là 50.000 cái xe hơi, thì làm sao có thể chiếm 1/5 của cải toàn cầu. Theo tính thần khoa học, toán học, khoa học của những khoa học, như nhiều nhà bác học trong đó có Marx đã nói, thì với 2 con số A và B, chúng ta chỉ có thể so sánh được khi chúng ta biết rõ giá trị của 2 con số này. Chúng ta chưa biết giá trị của con số A làm sao chúng ta có thế so sánh B với A. Ðể đánh giá « của cảỉ « hay đúng ra là tài sản của một quốc gia rất là khó. Có một số người trước đây cũng đã làm công việc này, nhưng bị chỉ trích, rồi sau bỏ, vì tài sản của một quốc gia bao gồm tài sản vật chất hay cả tinh thần ? Ngay dù là vật chất, nhưng làm sao đánh giá đúng những sách vở quí giá trong thư viện, làm sao đánh giá đúng những vật quí giá trong bảo tàng viện ? Chính vì vậy mà ngày hôm nay người ta chỉ thường so sánh về tổng sản lượng quốc gia hàng năm. Tính theo tổng sản lượng, thì tổng sản lượng của Hoa Kỳ năm 2003 là 10 383 100 triệu $, khoảng hơn 10.000 tỷ $ chiếm 32,12% tổng sản lượng thế giới ; Nhật bản là 3 993 433 triệu $, gần 4 000 tỷ $ chiếm 12,36% tổng sản lượng thế giới ( theo l’Année stratégique 2005, sous la Direction de Pascal Boniface – trang 265 và trang 511 -nhà xuất bản Armand Colin – Paris 2004). &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Trang 31 dòng 18, ông Hoàng Tùng viết : « Chân lý bao giờ cũng cụ thể, cách mạng là sáng tạo « . Dạ thưa, ông Hoàng Tùng thích nói đến khoa học, mà một trong những khoa học khoa học nhất là tóan học, ông cũng không nắm vững.. Chân lý tóan học đâu có cụ thể, chẳng hạn như phương trình đơn giản f(x) = 2x, x biến đổi từ cực tiểu ( - oo = trừ infini ) tới cực đại (+ oo = cộng infini ) ( vì máy không có dấu cực tiểu, cực đại, nên tôi viết 2 o ghép lại). Ý niệm cực tiểu, cực đại có cụ thể đâu. Cũng như trong hình học, người ta định nghĩa vòng tròn là tổng số những điểm cách đều một điểm cố định là trung tâm. Ở ngoài đời, chúng ta không thể nào tìm thấy một cái hình tròn hòan hảo như trong định nghĩa tóan học. Trong hóa học, các nhà bác học dịnh nghĩa nguyên tử bao gồm neutron, potron và electron. Neutron , potron va electron có cụ thể đâu ; nhưng đó vẫn là chân lý của khoa học. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Trang 32, dòng 17, ông Hoàng Tùng viết :&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; « Người…… chỉ đi đứng cũng không nói, nói chi nâng cao năng xuất lao động ( ?) « ( Tôi chép nguyên văn, không thiếu một chấm, một phảy - lời tác giả bài này). Trong câu này, ông Hoàng Tùng dùng sáu cái chấm (…… ) sau chữ « Người « và dấu hỏi ( ?), trong mở ngoặc và đóng ngoặc là có ý nghĩa gì ? Về hình thức, cách dùng dấu chấm và dấu hỏi là sai, và cách dùng chữ « cũng « cũng sai. Người ta dùng chữ « cũng « để nhấn mạnh 2 mệnh đề cùng một ý nghĩa, dùng ở mệnh đề sau, dù xác định hay phủ định. Thí dụ : Anh đi bơi là tốt ; anh chạy cũng tốt, vì cả 2 đều lợi cho sức khỏe. Dấu hỏi là dùng để đặt cuối câu, khi câu đó có ý nghĩa hỏi. Tôi thấy cả 2 câu không có ý nghĩa gì là câu hỏi, tại sao ông Hoàng Tùng lại dùng câu hỏi ở đây. Nói về nội dung thì câu trên thật là tối nghĩa. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Cứ như vậy trong suốt một bài dài 33 trang, ông Hoàng Tùng nói đến lịch sử, lịch sử đảng cộng sản Nga sô, Trung Cộng, đến khoa học, đến văn minh, đến tư tưởng, đến trí thức, đến vai trò của trí thức v.v…; nhưng tất cả đều không có dẫn chứng nguồn gốc từ một quyển sách nào, từ một công trình nghiên cứu nào ; những dữ kiện lịch sử, khoa học đều thiếu cơ sở khoa học, đó là về nội dung ; còn về hình thức , thì nhiều câu văn tối nghĩa, khó hiểu, sai văn phạm, văn không thành câu, thành cú. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ông Hoàng Tùng kết luận bài của mình bằng một câu : « Tư tưởng Hồ chí Minh mãi mãi soi đường cho thế hệ chúng ta « ( cuối trang 33) .&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Thứ nhất, câu kết luận này không có ăn nhập gì với thân bài, vì trong suốt một bài dài 33 trang, ông Hoàng Tùng chỉ nói đến Hồ chí Minh một lần ở cuối trang 5, vỏn vẹn trong câu « …, chấm dứt cái vòi thứ hai của con bạch tuộc như Hồ chí Minh dự báo từ năm 1920 ». Và như vậy, theo nguyên tắc của một bài luận văn, một bài thuyết trình hay một quyển sách, thì câu kết này hòan tòan lạc đề, nếu nói nặng thì ông Hoàng Tùng không ở trình độ một học sinh trung học làm luận văn.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Có người đưa ra lập luận bảo rằng ông Hoàng Tùng sống dưới một chế độ độc tài đang tôn thờ Hồ chí Minh, nên phải đưa ra câu này vào cuối cùng để thoát hiểm. Vâng, ngay dù đồng ý như vậy ; nhưng cũng nên làm một cách hợp lý hơn, ít ra cũng nhắc tới Hồ chí Minh ba bốn lần rồi đưa ra câu này. Chỉ nói đến Hồ chí Minh có một lần, rồi đưa ra câu kết luận như vậy, chứng tỏ ông Hoàng Tùng cũng không khôn khéo.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Không những không khôn khéo, mà ông Hoàng Tùng còn vừa có trí nhớ ngắn, vừa không ở trình độ để hiểu thế nào là tư tưởng, nên mới đưa Hồ chí Minh lên thành nhà tư tưởng..&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/03/01/tra_loi_hoang_tung_tiep~1827004"&gt;http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/03/01/tra_loi_hoang_tung_tiep~1827004&lt;/a&gt;
&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/ma_7896_t_vai_y_kia_7870_n_va_7872_bai_l~1797826/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>politics</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/ma_7896_t_vai_y_kia_7870_n_va_7872_bai_l~1797826/#comments</comments></item><item><title>THẾ TẤT THẮNG CỦA NHỮNG NGƯỜI DÂN CHỦ</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/tha_7870_ta_7844_t_tha_7854_ng_ca_7910_a~1797804/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/tha_7870_ta_7844_t_tha_7854_ng_ca_7910_a~1797804/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 16:47:14 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;THẾ TẤT THẮNG CỦA NHỮNG NGƯỜI DÂN CHỦ, &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;  THẾ TẤT THUA CỦA NHỮNG CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ngày hôm nay, thế tất thắng của những người đấu tranh cho tự do, dân chủ trên tòan thế giới nói chung ; cho dân tộc Việt Nam nói riêng ; và thế tất thua của những chế độ độc tài, trong đó có cộng sản Việt Nam, đã quá rõ. Ở đây tôi chỉ xin nói về thế tất thua của cộng sản Việt Nam. Những người đấu tranh cho dân chủ Việt Nam sẽ thắng hay nói một cách khác đi cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ vì 3 sức ép sau đây : 1) Sức ép đến từ người dân ; 2) Sức ép đi từ trong lòng chế độ ; 3) Sức ép đến từ cộng đồng quốc tế.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;I)                  &lt;strong&gt;Thế tất thắng đến từ ngừơi dân&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ngày hôm nay, dân Việt vô cùng căm thù cộng sảnvì họ ý thức rất rõ là họ bị lừa, họ nhìn ra rõ bộ mặt thật của cộng sản. Đó chỉ là những phường giết người, cướp của.Cộng sản đã để rớt 2 mặt nạ : quốc gia dân tộc và xã hội chủ nghĩa.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Sự thật càng ngày càng được phơi bày, chứng tỏ cộng sản không có một tý gì là quốc gia dân tộc, ngay bắt đầu từ Hồ chí Minh. Có lẽ trong lịch sử Việt Nam, và ngay cả lịch sử trên thế giới, chưa có một ai lại vọng ngoại như họ Hồ, đặt tên núi là núi K. Marx, tên suối là suối Lénine, ở gần hang Bắc Bó, khi Hồ sống vào những năm 40 ; ngay ở những nước Đông Âu, Bắc Hàn, Cuba cũng không có sự kiện này ; chỉ có với Hồ chí Minh ở Việt Nam. Không những vậy, hắn còn hỗn xược với những anh hùng Việt Nam, xưng tôi, gọi bác, đức Thánh Trần Hưng Đạo, trong một bài thơ khi hắn viếng thăm đề thờ Trần Hưng Đạo như sau :&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;em&gt;Cũng cờ, cũng kiếm, cũng anh hùng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tôi bác chung nhau nợ kiếm cung.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Bác phá quân Nguyên thanh kiếm bạc.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Bác đưa một xứ qua nô lệ.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tôi dẫn năm châu tới đại đồng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Bác có linh thiêng, cười một tiếng !&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Mừng tôi cách mạng đã thành công !&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Trong khi đó hắn gọi Lénine (1870-1924), K. Marx (1818-1883) là cụ trong Di chúc của hắn, cả hai sinh sau đức Thánh Trần cả sáu trăm năm, vì Trần Hưng Đạo, có sử gia cho rằng ngàisinh vào năm 1232, chết vào ngày 3 tháng 9 năm 1300, Dương lịch. Khi gần chết, họ Hồ chỉ mơ ước gặp «cụ Mác, cụ Lê «như trong Di chúc hắn viết ; chứ không muốn gặp những anh hùng, liệt sĩ Việt Nam.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Hồ chí Minh và con cháu hiện nay như Nông đức Mạnh, Phạm văn Đồng, Lê khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê đức Anh, không những vọng ngoại, mà còn dâng đất, nhượng biển cho Trung Cộng, biến Việt Nam thành một quận huyện của Trung Cộng, làm đất nước không những bị lệ thuộc về chính trị, ngoại giao, mà cả kinh tế và văn hóa, vì hàng hóa, phim ảnh Trung Cộng tràn ngập thị trường Việt Nam.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Cộng sản là một bọn giặc nước, giết người, cướp của, không những không có một tý gì là quốc gia, dân tộc, mà còn không có gì là xã hội chủ nghĩa, vì theo đúng nghĩa, xã hội chủ nghĩa phải là một xã hội công bằng ; trong khi đó thì xã hội Việt Nam hiện nay vô cùng bất công : Con ông cháu cha tiêu tiền vứt qua cửa sổ ; cán bộ, đảng đòan đánh những canh bạc, cá độ cả triệu đô la ; người dân thì không có đến 1$ một ngày để sống, thợ thuyền phải đình công vì lương hàng tháng không tới 50$ ; 70 đến 80% dân Việt không dám đi nhà thương khi bệnh, vì không có tiền.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Xã hội bất công, tham nhũng lan tràn, lãnh đạo «bất tài, bất lực, bất lương », như lời cựu đại tá cộng sản Phạm quế Dương nói ; đạo đức suy đồi, kỷ cương băng hoại, lòng người oán than. Đó là bức tranh xã hội Việt Nam hiện thời. Người xưa có câu : «&lt;em&gt;Dân như nước, quân như thuyền. Nước có thể chở thuyền ; nhưng nước cũng có thể lật thuyền &lt;/em&gt;" &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Thật vậy, nếu một chính quyền mà được lòng dân, như thuyền đi xuôi dòng nước, thì dân sẽ hưởng ứng, giúp đỡ chính quyền. Nhưng một chính quyền đi trái lòng dân, như thuyền đi ngược dòng nước, thì có ngày nước sẽ lật thuyền, như dân có ngày sẽ lật chính quyền. Đó là thế tất thua thứ nhất của cộng sản hiện nay.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;I I) Thế tất thua đến từ ngay trong lòng chế độ&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;  Trước tình trạng đất nứơc đau thương, bị cắt xén dâng cho ngoại bang, dân tình ca thán, nhiều người cộng sản, vì lầm lẫn trước kia, đã rời bỏ hàng ngũ, đứng về phía quốc gia, dân tộc, như ông Hoàng minh Chính, cựu Viện trưởng viện Nghiên cứu Mác Lê, ông Phạm quế Dương, cựu đại tá cộng sản, cựu Tổng biên tập tạp chí Nghiên cứu lịch sử Quân đội Nhân dân, nhà văn Dương thu Hương và nhiều quân cán chính trẻ khác. Đảng cộng sản hiện nay bị phân tán trầm trọng. Chỉ dấu, đó là trước Đại hội X, đảng đã họp mười mấy lần trung ương, nhưng vẫn không đưa ra được đường lối xát thực, khả thi, trả lời đúng nguyện vọng của dân và tình hình đất nước; ngoài những khẩu hiệu cũ rích, nhưnhững câu thần chú, rỗng tuếch, đã được nhắc đi, nhắc lại cả hàng bao chục năm nay, như nội dung của Bản Dự thảo Chính trị cho Đại hội X vừa mới công bố.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ngay trong trung ương đảng, cũng có người thường nói: “ Nếu đi theo Trung Cộng, thì mất nước; nhưng còn đảng. Nếu đi theo Tây phương, thì mất đảng; nhưng còn nước.”Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay đang ở vào ngõ cụt. Đây cũng là sức ép thứ nhì làm cho chế độ cộng sản sụp đổ.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; &lt;strong&gt;I I I) Thế tất thua thứ 3 của cộng sản đến từ tình hình chính trị thế giới, đến từ trào lưu văn hóa, văn minh của nhân loại&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;  Theo những nhà kinh tế, sử học và nhân chủng học, thì nhân loại đã trải qua 5 thời kỳ văn minh : văn minh trẩy hái, tức thời kỳ con người mới xuất hiện, sống ở hang động và hái hoa quả, săn xúc vật quanh hang để sinh sống. Thế rồi hoa quả, xúc vật cũng trở nên khan hiếm, con người phải đi xa để kiếm ăn, đó là thời kỳ văn minh du mục. Rồi ngay dù đi xa kiếm ăn cũng khó khăn, con ngưới phải trồng cây lấy quả, nuôi xúc vật để sống. Con người bước sang văn minh định cư, nông nghiệp. Một điều không làm chúng ta ngạc nhiên, đó là những nền văn minh lớn của nhân loại thường phát xuất ở những đồng bằng các con sông lớn, như văn minh Ai Cập, ở đồng bằng sông Nil; Ấn Độ, ở sông Hằng v..v.., vì ở những đồng bằng các con sông, đất phù sa tốt cho trồng trọt, có nước để tưới cây, cho xúc vật uống.Với nền văn minh định cư nông nghiệp này, con người có thể thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu như ăn mặc của mình. Một khi những nhu cầu thiết yếu được thỏa mãn, con người nghĩ đến những nhu cầu xa xỉ, nên nó đã trao đổi. Chẳng hạn khi nó trồng bắp, nhưng nó muốn ăn lúa mì thì nó trao đổi với ngừơi trồng lúa mì. Nó biết dệt vải để mặc; nhưng nó thích lụa, thì nó trao đổi với người dệt lụa. Chính vì vậy mà chúng ta thấy có con Đường Tơ lụa, nối liền đông tây. Con người bước sang văn minh thương mại.Trong thời kỳ văn minh này, con người đã phát minh ra máy hơi nước, máy nổ, điện, điện thoại, máy điện toán (computer). Nhưng với điện thoại, máy điện toán, con người không cần đi xa để trao đổi. Con người bước sang nền văn minh thứ năm, văn minh trí thức, điện toán, chính là văn minh hiện nay. Trong 4 nền văn minh trước, sức mạnh bắp thịt, chân tay đã giữ vai trò quan trọng trong sản xuất kinh tế. Nhưng với nền văn minh trí thức điện toán ngày hôm nay, trí tuệ con người mới đóng vai trò quan trọng. Sự giàu có của một quốc gia không còn nằm trong lòng đất với hầm mỏ, nhân công đông; mà chính là quốc gia đó có một đội ngũ trí thức, chuyên viên quan trọng hay không, nói một cách khác đó là quốc gia ấy có nhiều phát minh sáng kiến về khoa học, kỹ thuật, về quản trị kinh tế hay không. Sự giầu có do ngay chính đầu óc con ngừơi mà ra. Nhưng để có thể phát minh sáng kiến, quốc gia đó cần phải có mô hình tổ chức xã hội tự do, dân chủ, vì chỉ dưới chế độ này, con người mới có thể trao đổi những học hỏi, công trình nghiên cứu một cách dễ dàng, mới có phát minh. Vì vậy những chế độ độc tài là những chế độ đi ngược lại văn minh của nhân loại.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Không những nó đi ngược lại văn minh nhân loại, mà nó còn đi trái lại chiến lược ngoại giao toàn cầu của thế giới tự do. Tổng thống G. Bush, trong bài diễn văn nhậm chức kỳ nhì, đã nhắc đi nhắc lại 42 lần chữ tự do, dân chủ. Bà ngoại trưởng C. Rice có nói: “ Một trong những nguyên tắc chính của một chánh sách ngoại giao đó là tự do, dân chủ và nhân quyền.” Không phải tình cờ khi Hội Đồng 46 nứơc Âu châu chấp nhận với 99 phiếu thuận, 42 phiếu chống Nghị quyết 1481 vào ngày 24/01/06 kết án chế độ cộng sản là độc tài, sát nhân, diệt chủng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Ngày hôm nay, chế độ cộng sản Việt Nam bị toàn thế giới lên án vi phạm nhân quyền. Điều này đã quá rõ và không thể nào chối cãi. Chế độ này đi ngược chiều văn minh thế giới và trái lại chiến lược ngọai giao tòan cầu của thế giới tự do. Đây là sức ép và cũng đồng thời là thế tất thua thứ ba của chế độ.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; *&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Đó là những thế tất thua của cộng sản. Nhưng cũng là những điều kiện khách quan. Còn cần điều kiện chủ quan. Những người đấu tranh cho tự do, dân chủ vàdân tộc Việt Nam hãy noi gương những dân tộc Ba la, Đông Âu, Liên Sô, can đảm đứng lên đấu tranh để nắm bắt thời cơ. Năm 1978, khi vừa mới nhậm chức, Đức Giáo hòang Jean Paul II, đã trở về Ba Lan, và đã đọc một bài diễn văn, trong đó có câu: “ Hãy can đảm, đừng sợ xệt và hãy hy vọng !" Tất nhiên trong hòan cảnh nước Ba Lan lúc bấy giờ còn bị cai trị bởi độc tài cộng sản, ngài không thể nói nhiều; nhưng chúng ta phải hiểu rộng hơn: Hãy can đảm đứng lên đấu tranh, đừng sợ xệt độc đóan, độc tài, và chỉ như vậy mới có quyền hy vọng một đời sống tốt đẹp hơn cho chính mình, cho con cháu mình và cho quê hương, đất nước. Ngày hôm qua 12/03/06, tôi có vào “ Pal Talk”, trong“rơom” mang tên “ Trả lại tên thành phố Sài Gòn”, với sự có mặt của cha Nguyễn hữu Lễ, người đang vận động Phong trào này, “ rơom” rất đông, lên tới gần 300 người, có một cô phụ nữ, với tên hiệu (nickname) “ Hy Vọng”, phát biểu rất hay. Cô kết luận đại để như sau: “ Chúng ta đừng để sự sợ hãi trở thành thói quen và tập quán. Làm như vậy, chúng ta sẽ trở nên bạc nhược, làm cho bạo quyền ngồi trên đầu, trên cổ chúng ta hòai ." Một câu nói thật ý nghĩa, làm tôi liên tưởng đến câu nói của anh Lý Tống, một người anh hùng đấu tranh cho tự do, dân chủ: “ &lt;em&gt;Nếu chúng ta khom lưng, thì cộng sản ngồi trên cổ. Nếu chúng ta đứng dậy, thì cộng sản sụp đổ&lt;/em&gt;.”&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Thật vậy, dân tộc Việt hãy can đảm đứng lên đấu tranh, thì lúc đó bạo quyền cộng sản mới không còn nữa, và mới có hy vọng ngày mai tươi sáng hơn .&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Paris ngày 13/03/2006 &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chu chi Nam&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/tha_7870_ta_7844_t_tha_7854_ng_ca_7910_a~1797804/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>politics</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/tha_7870_ta_7844_t_tha_7854_ng_ca_7910_a~1797804/#comments</comments></item><item><title>ĐỊA LÝ CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH  VÙNG ĐÔNG NAM</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/a_272_a_7882_a_ly_chia_7870_n_la_431_a_7~1797793/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/a_272_a_7882_a_ly_chia_7870_n_la_431_a_7~1797793/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 16:44:07 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;ĐỊA LÝ CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH  VÙNG ĐÔNG NAM &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chu chi Nam &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nói đến vùng Đông Nam Á, chúng ta không thể không nói đến tòan vùng Á châu và địa lý chiến lược vùng Đông Nam Á, mà khi nói tới địa lý, chiến lược, chính tri vùng này, chúng ta cũng không thể quên ảnh hưởng chính trị của các cường quốc thế giới trên vùng&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Vai trò quan trọng của Á châu và vùng Đông Nam Á&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Vai trò của Á châu trên lịch sử thế giới&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Trên một diện tích gần 1/3 đất nổi của quả địa cầu với 49.934.000km2, với một dân số hơn nửa dân số nhân lọai. Á châu là nơi mà người ta thấy những nền văn minh cổ kính nhất của nhân lọai xuất hiện. Nơi đó người ta đã khám phá ra những nguyên tắc đầu tiên của canh nông và chăn nuôi, là nơi phát xuất ra những tôn giáo chính của nhân lọai Do thái giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, ấn Độ giáo và Phật giáo ( Judaisme, Christianisme, Islam, Hindhouisme,Bhouhisme).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Vai trò của vùng Đông Nam Á&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Vùng Đông Nam Á là vùng đi từ vịnh Bắc Việt tới vùng vịnh Bengale, một vùng đất bị đồi núi chia cắt ra làm nhiều mảnh. Nếu chúng ta lấy Équateur làm mốc điểm, thì là một vùng đất đi từ phía bắc Équateur đến vĩ tuyến thứ 23, về phía nam, đi từ Équateur đến vĩ tuyến thứ 10. Bên kia eo biển Mã Lai là một vùNG QUẦn đảo dài hàng nghìn cây số lập thành hai cung đảo : cung đảo Mã lai và cung đảo Moluques.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Đông Nam Á gồm các nước sau đây :&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Miến Điện : 676 580km2 ; dân số :  47 749 000 ; Tổng sản lượng (TSL) : 83tỷ$, Sản lượng theo đầu người ( SLDN) : 1737$, như vậy là trên mức độ nghèo đói, vì mức độ nghèo đói hiện nay là 900$ tính theo đầu người hàng năm.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Brunei : Diện tích : 5770km2 ; dân số : 338 000 ; TSL : 7,57 tỷ$ ; SLDN : 22 402$.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nam Dương : Diện tích : 1 904 570km2 ; Dân số : 210 421 000 ; TSL : 113,54tỷ$ ; SLDN :  540$. Như vậy là một nước chậm tiến.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Mã lai : Diện tích : 329750km2 ; Dân số :23 270 000 : TSL : 78,89 tỷ$ ;SLDN : 3 390$.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Thái Lan : Diện tích : 513 120km2 ; Dân số : 60 729 000 ; TSL : 113,40tỷ$ ; SLDN : 1867$.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Việt Nam : Diện tích : 331 690km2 ; Dân số : 78 522 700 ; 31,14tỷ$ ; SLDN : 397$. Như vậy theo tieu chuẩn của Cơ Quan Phát Liên Hiệp Quốc, thì Việt Nam còn ở xa mức nghèo đói là 900$.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Las : Diện tích : 236 000km2 ; Dân số : 5 279 000 ; TSL : 1,52ty$ ; SLDN : 287$. Quá chậm tiến.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Căm bốt : Diện tích : 181040km2 ; Dân số : 12 021 230 ; TSL : 3,22tỷ$ ; SLDN : 268$. Quá chậm tiến.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Trung Cộng ; Diện tích : 9 598 000km2 ; Dân số : 1 262 460 000 ; TSL : 1 141,87tỷ$ ; SLDN : 904$. Vừa vượt hàng rào nghèo đói.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Kết Luận&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Đông Nam Á là vùng đất có sắc thái chính trị và văn hóa hết sức khác biệt. Sư( du nhập phong trào cộng sản  từ thập niên 30, cùng với sự giành độc lập của các quốc gia trong vùng, sau Thế chiến thứ Nhì, nhất là sự hiện diện và thống trị của đảng CSVN ở «  nước Đông Dương cùng chính sách lệ thuộc Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, muốn làm tiền đồn cộng sản trong vùng, đã làm cho vùng này bất ổn triền miên, có thể nói cho tới ngày hôm nay, mặc dầu Đệ Tam Quốc Tế CS và Liên Sô không còn nữa.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nhìn bản đồ Đông Nam Á, eo biển Mã Lai là con lộ ngắn nhất nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, băng qua biển Nam Trung Quốc. Đó là con đường chuyên chở 85% dầu hỏa cần cho kỹ nghệ Nhật bản. Hải cảng chính của Singapour nằm ngay cửa của eo biển Mã Lai, là hải cảng lớn thứ 3 thế giới, tại đó có cả trăm hãng vận chuyển hàng hải lớn nhất thế giới và trung bình cứ 10 phút lại có một chiến tàu ra vào.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ngòai eo biển Mã Lai, các quần đảo Paracels và SparTley ( Trường Sa và Hòang Sa) cũng là một điểm nóng gây ra tranh chấp trong vùng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Paris&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Chu chi Nam&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/a_272_a_7882_a_ly_chia_7870_n_la_431_a_7~1797793/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>politics</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/a_272_a_7882_a_ly_chia_7870_n_la_431_a_7~1797793/#comments</comments></item><item><title>CÁCH MẠNG HAY CẢI CÁCH CHO VIỆT NAM ?</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/cach_ma_7840_ng_hay_ca_7842_i_cach_cho_v~1797774/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/cach_ma_7840_ng_hay_ca_7842_i_cach_cho_v~1797774/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 16:38:36 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;CÁCH MẠNG HAY CẢI CÁCH CHO VIỆT NAM ?&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;     Nhìn vào tình hình Việt Nam hiện nay, gần như tất cả mọi người đều đồng ý là phải có thay đổi. Nhưng thay đổi như thế nào?  Thay đổi đến mức độ một cuộc cách mạng hay chỉ thay đổi trong vòng cải cách ?&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;     Chúng ta hãy cùng nhau xem xét vấn đề.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;I)     Cách mạng là gì ? Cải cách là gì ?&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Cách mạng là một cuộc thay đổi rộng lớn, có tính chất tòan phần và mau lẹ. Trong khi đó cải cách là một cuộc thay đổi nhỏ, có tính cách bán phần và chậm. Trền phương diện chính trị và xã hội, cách mạng nhằm thay đổ cả một chế độ. Trong khi đó, cải cách  vẫn duy trì chế độ và chỉ chủ trương thay đổi một vài cơ chế nhỏ của chế độ. Nhìn theo bình diện cơ cấu, cách mạng chủ trương thay đổi 3 cơ cấu chính của một xã hội. Đó là: thể chế chính trị, giai tầng lãnh đạo và trật tự hiện hành của xã hội đó. Trong khi cải cách chủ trương vẫn giữ thể chế chính trị, giai tầng lãnh đạo và trật tự xã hội; nếu có thay đổi là thay đổi một vài cơ cấu nhỏ, một vài nhân sự của chế độ này.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;     &lt;strong&gt;I I)  Việt Nam hiện nay cần cách mạng hay cải cách ?&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Từ định nhĩa trên, một câu hỏi đến với chúng ta là Việt Nam hiện nay cần cách mạng hay cải cách ? &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   - Xin thưa : Việt Nam hiện nay cần một cuộc cách mạng. Tại sao ?&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;-         Như trên đã nói, cách mạng nhằm thay đổi 3 cơ chế chính của một xã hội: &lt;strong&gt;thể chế chính trị, giai tầng lãnh đạo và trật tự xã hội.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Thể chế chính trị Việt Nam hiện nay, theo tinh thần bản Hiến pháp hiện hành 1992, Lời Mở Đầu : “ &lt;em&gt;Hiến pháp này qui định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và họat động của các cơ quan Nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý &lt;/em&gt;.”, và điều 4 : “&lt;em&gt;Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưỏng Hồ chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội&lt;/em&gt;.” Ở đây chúng ta không đi xâu vào vấn đề lạm dụng danh nghĩa, lạm dụng danh từ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tự cho mình là đại biểu trung thành của giai cấp công nhân và hơn thế cữa của tòan thể nhân dân, nhưng trên thực tế thì chẳng bênh vực gì quyền lợi công nhân, chẳng nghĩ gì đến dân, đến nước; hay việc chơi chữ, nói nhân dân làm chủ mà không có quyền lãnh đạo và quản lý, thì làm chủ ở chỗ nào. Chúng ta chỉ nói đến lý thuyết Mác-Lenin và tư tưởng Hồ chí Minh được coi là nền tảng của chế độ. &lt;strong&gt;Về tư tưởng Hồ chí Minh, thì chính ông ta đã nhiều lân tuyên bố tôi chẳng có tư tưởng gì cả, tư tưởng của tôi đã có Marx, Lénine và Mao nghĩ hộ&lt;/strong&gt;. Vào năm 1920, khi tham dự hội nghị Tours ở Pháp, ông nói ông không ở trình độ phân biệt nổi Đệ Nhị và Đệ Tam Quốc tế Cộng sản. ( Xin xem thêm Những Mẫu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch – Tác giả Trần dân Tiến -Nhà Xuất Bản Sự Thật – Hà nội - năm 1950). Trần dân Tiến chính là Hồ chí Minh.Một chế độ mà dựa trên nền tảng một cái gì không có. Điều này không cần bàn tới. Về lý thuyết Marx và Lénine, kinh nghiệm thực tế của tất cả các chế độ cộng sản, từ ngày thành lập chế độ đầu tiên ở Nga Sô năm 1917 cho tới nay còn rơi rớt lại 4 chế độ là Cộng sản Việt Nam, Trung Cộng, Bắc Hàn và Cuba, cho chúng ta thấy lý thuyết Marx, Lénine không những không tưởng, mà còn phản kinh tế, phản dân chủ, phản phát triển, nếu áp dụng thì chẳng khác nào “Đẽo chân để đi vừa giàỷ” làm cho tất cả mọi xã hội sống dưới chế độ cộng sản trở nên què quặt. ( Xin xem thêm những bài viết của tác giả bài này với bút hiệu Trực Ngôn hay Chu chi Nam, trên báo &lt;a href="http://anhduong.net"&gt;http://anhduong.net&lt;/a&gt; , &lt;a href="http://www.danchu.net,"&gt;http://www.danchu.net,&lt;/a&gt; &lt;a href="http://www.conong.com,"&gt;http://www.conong.com,&lt;/a&gt; &lt;a href="http://chuchinam.tripod.com/"&gt;http://chuchinam.tripod.com/&lt;/a&gt; , như những bài Phê Bình Lý Thuyết của Marx; Sự Hồ Đồ của Marx Theo K. Popper; Con Người Thần Thánh, Thương Dân Yêu Nước Trần Hưng Đạo Và Con Người Gian Manh, Quỉ Quyệt, Buôn Dân Bán Nước Hồ Chí Minh; Sự Phá Sản Của Cách Mạng Cộng Sản; Cách Mạng Tất Yếu Không Xảy Ra Ở Những Nước Tư Bản, Mà Cách Mạng Tất Yếu Đã Xảy Ra Và Còn Xảy Ra Ở Những Nước Cộng Sản  v.v…). Một chế độ dựa trên nền tảng một cái gì không có là tư tưởng Hồ chí Minh, một lý thuyết phản khoa học, phản kinh tế, phản dân chủ, phản tiến bộ, không tưởng như tư tửong Marx-Lènine, thì hỏi rằng chế độ đó là chế độ gì, phục vụ cho ai? Bởi lẽ đó Việt Nam hiện nay cần phải thay đổi chế độ cộng sản hiện thời, bắt đầu bằng cách thay thế hiến pháp hiện hành chủ truơng độc khuynh, độc đảng, độc tài bằng một hiến pháp chủ trương đa khuynh, đa đảng, tự do, dân chủ.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Về giai tầng lãnh đạo Việt Nam hiện nay ?  - Không riêng gì những người không cộng sản, người dân, mà cả ngay những người cộng sản cấp thấp và những người cộng sản phản tỉnh, ai cũng thấy &lt;strong&gt;đây là một giai tầng đặt nặng quyền lợi của một thiểu thiểu số đảng đòan lên trên quyền lợi quốc gia dân tộc, một giai tầng buôn dân, bán nước&lt;/strong&gt;. Nói như cựu đại tá cộng sản, cựu tổng biên tập tờ báo Nghiên Cứu Lịch sử Quân đội Nhân dân Phạm quế Dương: “ Cộng sản vừa bất tài, bất lực và bất lương”. Theo nữ văn sỹ Dương thu Hương thì: “ Dân Việt Nam dầu có mù chữ chăng nữa cũng nhìn thấy mặt của giới lãnh đạo cộng sản vừa tối tăm, ngu dốt, vừa ác ôn, côn đồ và hèn hạ.” Bởi lẽ đó cơ chế thứ nhì mà một cuộc cách mạng chủ trương là thay thế giai tầng lãnh đạo thiếu tài, thiếu đức hiện nay, do đảng cộng sản chỉ định, bằng một giai tầng lãnh đạo có tài, có dức, do người dân chỉ định, qua những cuộc bầu cử tự do, dân chủ thực sự. Có những người trí thức hay lãnh đạo cộng sản đưa ra những luận điệu theo đó dân tộc Việt Nam chưa đủ trình độ để bầu tự do. Điều này hòan toàn sai. Hiện nay có vào khoảng 200 quốc gia trên thế giới, phần lớn đều theo chế độ dân chủ, người dân tự do bầu người lãnh đạo của mình. Không lẽ dân tộc Việt lại thấp hèn thế sao ?&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Cơ chế thứ ba mà một cuộc cách mạng ở Việt Nam cần thay đổi đó là trật tự hiện hành. Đây là một trật tự &lt;strong&gt;vô cùng bất công&lt;/strong&gt;. Đại đa số dân Việt không có lấy một đô la một ngày để sống. Trong khi đó thì đảng đoàn, cán bộ, con ông cháu cha tiêu tiền vứt qua cửa sổ, tiêu cả ngàn đô la trong những vũ trường, hộp đêm, đánh những canh bạc cả trăm ngàn đô la. Tiền đó do đâu mà ra? Là do tham những, hối lộ, hút máu mủ của dân. 70% dân Việt hiện nay không dám đi bác sĩ, nhất là đi nhà thương, vì không có tiền. Chưa bao giờ dân Việt lại lầm than như ngày hôm nay dưới trật tự cộng sản. Cả bốn chục ngàn trẻ em, có em chưa đầy 10 tuổi phải bán thân nuôi miệng ở bên Căm bốt. Cả trăm ngàn chị em phụ nữ phải lấy chồng Đài Loan vì nghèo túng. Đó là trật tự cộng sản đó hả? Theo đúng nghĩa, thì trật tự cộng sản phải là trật tự công bằng mà. Vì vậy, mục đích thứ ba của cuộc cách mạng là phải thay thế trật tự bất công cộng sản hiện nay bằng một trật tự công bằng hơn.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;     &lt;strong&gt;I I I ) Những luận điệu phản bác lại cách mạng&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Có một số trí thức và một số lãnh đạo cộng sản, vì tham quyền cố vị, vì đặc ân, đặc lợi, đã đưa ra luận điệu : Nếu chúng ta làm cách mạng có nghĩa là bạo động, sẽ đưa dân đến cảnh nồi da, xáo thịt, cảnh thập nhị xứ quân. Luận điệu này hòan tòan sai. Cách mạng không nhất thiết phải là bạo động. Hãy nhìn những cuộc cách mạng tự do, dân chủ ở Liên Sô, Đông Âu, ở Nam Dương, Phi Luật tân, có đổ máu, bạo động đâu. Tất nhiên ở Việt Nam trong tương lai, việc này còn tùy thuộc ở thái độ biết điều hay không của giới lãnh đạo chóp bu cộng sản. Ở đây tôi chỉ muốn nói cách mạng không nhất thiết là bạo động và đổ máu. Hơn thế nữa, hiện nay dân tộc Việt đang sống dưới cảnh nồi da xáo thịt, thập nhị xứ quân do Đảng Cộng sản gây ra. Những em bé phải làm khẩu dâm ở Căm Bốt, người dân không có tiền đi bác sĩ, những chị em phụ nữ phải đi lấy chồng Đài loan, đi xuất cảng lao động, hay phải làm ở những hãng xưởng ngoại quốc ngay ở Việt Nam, và bị hành hạ bởi những ông tư bản trắng toa rập với những tư bản đỏ Việt nam, đó là cảnh nồi da xáo thịt. &lt;u&gt;Làm cách mạng để chấm dứt tình trạng đó, chính là chấm dứt tình trạng nồi da xáo thịt. Thêm vào đó, dân Việt hiện nay đang sống dưới cảnh không phải là thập nhị xứ quân, mà là cả trăm xứ quân.&lt;/u&gt; Các ông tỉnh ủy, huyện ủy cộng sản là những xứ quân, tha hồ hòanh hành, bòn rút, bóc lột, hà hiếp dân bằng đủ mọi cách, thông đồng với các con buôn ngoại quốc để thuồn hàng lậu, bóp chết kinh tế của dân, thông đồng với mafia ngoại quốc buôn bán sì ke, ma túy, làm hại sức khỏe của dân, nhất là giới trẻ. Lám cách mạng chấm dứt tình trạng náy, chính lá chấm dứt cảnh thập nhị xứ quân.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;     &lt;strong&gt;IV) Cách mạng độc lập cứu quốc và cách mạng dân chủ kiến quốc&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Nhìn từ một bình diện khác, thì Việt Nam hiện nay cần một cuộc cách mạng với 2 mục đích chính : đó là cách mạng độc lập cứu quốc và cách mạng dân chủ kiến quốc. Tại sao vậy ?&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;-         &lt;u&gt;Vì Việt Nam hiện nay không có độc lập. Từ ngày Hồ chí Minh và Đảng Cộng sản cứơp chính quyền vào năm 1945 tới nay, chế độ cộng sản không có độc lập, ngày xưa thì lệ thuộc Liên Sô; sau khi Liên Sô sụp đổ, thì lệ thuộc Trung Cộng. Cộng sản Việt Nam hiện nay về chính trị ngoại giao thì hoàn toàn lệ thuộc Trung Cộng. Thệm tệ hơn nữa là chúng còn dâng đất nhượng biển cho Trung Cộng, ngay từ thời Hồ chí Minh, qua bức thư đề ngày 14/9/1958, chỉ 6 ngày sau yêu sách của Trung Cộng, của Pham văn Đồng trả lời thỏa mãn yêu cầu hải phận 12 hải lý cho Chu ân Lai, có nghĩa là gián tiếp dâng quần đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng. Sau này con cháu Hồ, qua hiệp ước năm 1999 và 2000, đã dâng gần 1 000 km2 đất liền, trong đó có ải Nam Quan và thác Bản Giốc, cùng cả chục ngàn cây sống vùng biển cho Trung Cộng. Không những bị lệ thuộc về ngoại giao mà còn bị lệ thuộc về kinh tế và văn hóa. Hiện nay 70% hang hóa trên thị trường Việt Nam là đến từ Trung Cộng. Phim ảnh trung Cộng tràn ngập thị trường Việt Nam. Trên thực tế, Việt Nam hiện nay là một quận huyện của Trung Cộng. Vì vậy phải cần có một cuộc cách mạng giành lại chủ quyền cho quốc gia dân tộc&lt;/u&gt;. Đó là cuộc &lt;strong&gt;cách mạng độc lập cứu quốc&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Cuộc cách mạng độc lập cứu quốc cần phải tiến hành song song với cuộc &lt;strong&gt;cách mạng dân chủ kiến quốc, vì dân chủ là mảnh đất mầu mỡ để phát triển kinh tế nẩy mầm&lt;/strong&gt;. Một con người bất cứ da vàng, da đỏ hay da trắng, da đen, có thể ví như một hạt mầm. Nếu nó được gieo vào một mảnh đất tốt, đó là một chế độ dân chủ, do dân bầu ra, lo cho quyền lợi của dân, thì hạt mầm đó sẽ nẩy mầm, đâm hoa, kết trái; ngược lại, nếu nó bị gieo vào một mảnh đất khô cằn, đầy sỏi đá như sống dưới một chế độ độc đoán, độc tài, giới lãnh đạo không do dân bầu, không nghĩ đế quyền lợi của dân, mà còn lo trấn lột dân, thì hạt mầm đó không thế nẩy mầm, nếu có thì cũng còi trẹt. Thí dụ rõ rang là hai nước Đại hàn và Việt Nam cùng với cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Bắc Hàn sống dưới chế độ độc tài cộng sản, dân đang chết đói. Nam Hàn sống dưới chế độ tự do, dân chủ, là cường quốc kinh tế thứ 10 trên thế giới. Tổng sản lượng của hơn 3 triệu người Việt hải ngoại sống dưới những chế dân chủ là 100 tỷ đô la. Trong khi đó tổng sản lượng của 82 triệu người Việt sống dưới chế độ độc tài cộng sản là 40 tỷ đô la. Dân chủ không những là mảnh đất mầu mỡ để cho phát triển kinh tế nẩy mầm, mà tất cả mọi ngành. Cách đây mấy năm, viện Nghiên Cứu Giáo dục, Khoa học và kỹ thuật Hoa kỳ Rockefellor, có chi nhánh ở Úc, có làm một cuộc nghiên cứu thống kê về những phát minh sáng kiến của các nước Đông Nam Á, trong đó có cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, đã đi đến kết quả: Thái Lan có 6 500 phát minh sang kiến, Singapour có 7500, Việt Nam có 280, cộng đồng người Việt ở hải ngoại có tới 14 000 gấp 50 lần 82 triệu người ở trong nước.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Nhìn vào lịch sử các cuộc cách mạng từ cổ chí kim trên thế giới, cuộc cách mạng Hoa Kỳ 1776 là cuộc cách mạng thành công nhất, vì nó đã đạt được 2 mục đích chính, cách mạng độc lập cứu quốc và cách mạng dân chủ kiến quốc. Nó đã đưa nước Hoa Kỳ thoát khỏi ách đô hộ của Anh. Đồng thời nó đã đặt nền tảng dân chủ giúp dân tộc Hoa Kỳ, mặc dầu là tạp chủng, mà có thể tiến vượt bực, như chúng ta thấy ngày hôm nay.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Tình trạng lệ thuộc Trung Cộng và độc tài của Việt Nam hiện nay đòi hỏi một cuộc cách mạng như cách mạng 1776 Hoa Ky. Tất nhiên lịch sử không thể hoàn toàn lập lại hay xuất cảng; nhưng chúng ta cũng phải nghiên cứu để học hỏi, noi theo.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;     &lt;strong&gt;V) Thái độ của những nhà đấu tranh dân chủ trong nước đối với cách mạng và cải cách&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Nói một cách tổng quát, không đi vào từng cá nhân, thì chỉ có một số ít những nhà đấu tranh dân chủ ở trong nước chủ trương cách mạng, có nghĩa là thay đổi thể chế chính trị, giai tầng lãnh đạo và trật tự xã hội hiện nay; còn phần lớn chỉ chủ trương cải cách, tức là vẫn giữ thể chế chính trị cũ và kêu gọi một vài thay đổi nhỏ, thứ yếu, chứ không phải trọng yếu. Không biết đó là vì họ chưa nắm vững vấn đề, hay còn vướng mắc bởi quá khứ, bởi tuyên truyền cộng sản, hoặc vì lý do hoàn cảnh và chiến thuật.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Quan sát thái độ của những nhà đấu tranh dân chủ ở Liên Sô và Đông Âu trước đây, chúng ta thấy &lt;strong&gt;họ có một thái độ dứt khoát chủ trương cách mạng. Giới trí thức và sinh viên Liên Sô không dạy và không học những giờ về lý thuyết Mác Lê&lt;/strong&gt;. Những con người như Sakharov, cha để của bom nguyên tử Liên Sô, 2 lần được huy chương Lénine, thế mà dám từ bỏ những đặc ân, đặc lợi, để nói lên sự thật, dù có phải ngồi tù. Việt Nam hiện nay cũng đã có những người như vậy, nhất là trong giới trẻ. Nhưng cần phải đông hơn nữa, và ngay dù vì hoàn cảnh hay chiến lược, chiến thuật, những nhà đấu tranh cho dân chủ ở trong nước hãy tự biết rằng &lt;strong&gt;Việt Nam hiện nay đang bị con bệnh trầm kha cộng sản phá hoại thân thề, để cứu Việt Nam phải cần liều thuốc mạnh, đó là cách mạng&lt;/strong&gt;; còn liều thuốc nhẹ như thuốc cảm, dầu cù là, tức cải cách, thì không thể nào chữa khỏi.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;     Một cuộc cách mạng cho Việt Nam hiện nay là một &lt;strong&gt;cuộc cứu rỗi &lt;/strong&gt;cho dân tộc Việt. Nhưng bất cứ cuộc cứu rỗi nào cũng bắt đầu bằng tự cứu. “ &lt;strong&gt;Hãy tự giúp anh, rồi trời se giúp anh&lt;/strong&gt;". ( Aide - toi, le Ciel t’aidera ). Cũng như một câu trâm ngôn Ai Cập : «  &lt;strong&gt;Nếu anh muốn người ta cứu anh thóat khỏi vực thẳm, thì ít nhất, anh cũng phải có cố gắng bám chặt vào sợi dân thòng xuống cứu anh&lt;/strong&gt;. » Dân tộc Việt Nam hiện nay đang ở dưới bờ vực thẳm do cộng sản gây ra. &lt;strong&gt;Dân Việt gãy tự cứu mình trước tiên. Can đảm đứng lên làm cách mạng. Nhất là giới trẻ, thanh niên, sinh viên, học sinh và trí thức. Tại sao các dân tộc khác họ làm được ? Không lẽ dân tộc Việt Nam lại yếu hèn, chịu ngồi bó tay dưới bờ vực thẳm hay sao ?&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;                  Ba lê 04/10/2005&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;                Chu chi Nam &lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/cach_ma_7840_ng_hay_ca_7842_i_cach_cho_v~1797774/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>politics</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/cach_ma_7840_ng_hay_ca_7842_i_cach_cho_v~1797774/#comments</comments></item><item><title>Đấu Tranh Đúng Chiều Hướng</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/a_272_a_7845_u_tranh_a_272_ung_chia_7873~1795406/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/a_272_a_7845_u_tranh_a_272_ung_chia_7873~1795406/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 04:35:45 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH CHO TỰ DO DÂN CHỦ CỦA CHÚNG TA ĐANG ĐI ĐÚNG CHIỀU HƯỚNG LỊCH SỬ VĂN MINH, HỢP LÒNG NGƯỜI, HỢP LÒNG DÂN, NHẤT ĐỊNH THÀNH CÔNG&lt;br&gt;
Chu chi Nam&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Công cuộc đấu tranh của chúng ta ngày hôm nay là một công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, để những quyền căn bản của dân Việt từ những quyền tự do đi lại, ngôn luận, tư tưởng, tín ngưỡng đến quyền tự do tư hữu, kinh tế, chính trị, hiệp hội, nghiệp đoàn phải được tôn trọng. Vì vậy cuộc tranh đấu này phải qua cửa ngõ lật đổ chế độ độc đoán cộng sản hiện nay. Đó là:&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; &lt;strong&gt;I) Một cuộc tranh đấu đi đúng chiều hướng lịch sử, văn minh nhân loạn&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Người cộng sản cho rằng nhân loạn trải qua năm thời kỳ:&lt;br&gt;
1) thời kỳ cộng sản nguyên thủy,&lt;br&gt;
2) thời kỳ nô lệ,&lt;br&gt;
3) thời kỳ phong kiến,&lt;br&gt;
4) thời kỳ tư bản và&lt;br&gt;
5) thời ký cộng sản..&lt;br&gt;
Nhưng một cách khác, có những sử gia, kinh tế gia, chia lịch sử nhân loạn ra làm 5 thời kỳ văn minh minh: 1) văn minh trẩy hái, mà chúng ta có thể gọi là thời kỳ ăn lông ở lỗ, con người hái trái cây, săn bắn chung quanh hang để sống; nhưng rồi cây quả, thú vật cũng trở nên khan hiếm, con người phải đi xa để tìm kiếm. Con người bước sang thời kỳ văn minh thứ nhì, đó là văn minh du mục. Cực điểm của thời kỳ này người ta có thể nói là thời đế quốc Mông Cổ với Thành Cát Tư Hãn, mà con cháu đã bị đánh bại 3 lần ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 13. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nhưng dù đi xa để kiếm ăn, thức ăn cũng không cò. Con người bắt buộc phải trồng trọt, chăn nuôi để sống. Con người bước sang thời kỳ văn minh thứ 3, văn minh nông nghiệp hay còn gọi là văn minh định cư. Những nền văn minh lớn của nhân loạn như văn minh Ai cập phát xuất từ đồng bằng sông Nil, văn minh Ấn Độ phát xuất từ sông Grange, văn minh Tàu từ sông Dương Tử, vì đất phù sa thì mầu mỡ tốt cho trồng trọt, đông thời có nước để tưới cây, cho súc vật uống. Với văn minh định cư nông nghiệp, con người có thể thoả mãn những nhu cầu cần thiết (besoins nécessaires). Một khi những nhu cầu cần thiết đã được thoả mãn, con người nghĩ tới những nhu cầu không cần thiết, xa xỉ (besoins non nécessaires, besoins de luxe), vì vậy con người cần phải trao đổi, trao đổi cái mình làm ra với cái mà người khác làm ra.&lt;br&gt;
Một thí dụ cụ thể để dễ hiểu: nếu tôi có thể trồng lúa, nuôi gà, nhưng tôi muốn ăn lúa mì và thịt vịt, thì tôi đổi lúa gạo với người chăn nuôi vịt và trồng lúa mì. Con người bước sang thời kỳ văn minh thương mại. Dấu tích lớn của văn minh thương mại là con Đường Tơ Lụa (Route de la Soie). Với văn minh thương mại, con người đã phát minh ra máy hơi nước, máy nổ, xe lửa, xe hơi, máy bay, điện, rồi máy điện toán. Nhưng với téléphone, máy điện toán, con người không cần đi xa mà chỉ cần cầm cái téléphone, ngồi trước máy điện toán để trao đổi. Con người bước sang nền văn minh thứ 5, đó là văn minh điện toán, mà người ta còn gọi là văn minh tri thức điện toán. Tri thức, phát minh, sáng kiến, điện toán đã giữ một vai trò quan trong trong tất cả các khâu của sản xuất kinh tế từ lúc sáng lập xí nghiệp, sản xuất hàng hóa đến lúc phân phối, bán hàng hóa trên thị trường.&lt;br&gt;
Văn minh tri thức và điện toán bắt buộc phải có mô hình tổ chức nhân xã tự do dân chủ và kinh tế thị trường, vì chỉ có dưới chế độ dân chủ, tự do con người mới có thể trao đổi những ý kiến, tư tưởng, những công trình nghiên cứu, mới có những tri thức, phát minh, sáng kiến.&lt;br&gt;
Vì vậy công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ của chúng ta chống lại nhà cầm quyền CSVN đang đi đúng chiều hướng của văn minh nhân loạn.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Thật vậy, nhân loạn đã ra khỏi thời kỳ văn minh định cư nông nghiệp với sức lao động bắp thịt chân tay làm chính để bước vào cuộc cách mạng kỹ nghệ thứ nhất với sự dùng máy móc chạy bàng hơi nước để khai thác tài nguyên thiên nhiên, từ đầu thế kỷ thứ 18 tới cuối thế kỷ thứ 19.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Sang thế kỷ thứ 20 và cho đến giữa thế kỷ này, con người đã dùng máy nổ để cách mạng hóa công nghiệp. Cuộc cách mạng thứ ba là cuộc cách mạng hậu công nghiệp bắt đầu từ giữa thế kỷ 20 cho tới ngày hôm nay, với sự xuất hiện máy điện toán thô sơ được dùng lúc đầu trong quân sự sau đó được hoàn hảo và được dùng trong lãnh vực sản xuất kinh tế. Nhờ vậy mà khác với hình thức sản xuất dây chuyền của Taylor vào thời công nghiệp phôi thai, người ta chuyển dân từ phương thức qui mô, đại chúng, sản xuất hàng loạt những hàng hóa có tính chất đồng dạng, sang những phương thức sản xuất nhỏ, gọn, nhẹ, với máy điện toán, tri thức, thông minh hơn, nhằm cung cấp những hàng hóa mang tính chất cá biệt, cho một thị trường càng ngày càng phân tán nhỏ, đòi hỏi hơn, nhằm thoả mãn nhu cầu của dân ngày càng khó khăn và tinh tế hơn..&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ở thời kỳ văn minh tri thức điện toán ngày hôm nay, sản xuất kinh tế đã chuyển từ bắp thịt lên trí não. Những động tác rập khuôn, dây chuyền của thời công nghiệp được thay thế bởi những công việc tinh vi hơn, đòi hỏi tri thức và phát minh sáng kiến nhiều hơn. Với thời kỳ văn minh này, với cuộc cách mạng tín học điện toán, trong vòng hai ba chục năm gần đây, mà người ta còn gọi là cách mạng trí tuệ, yếu tố quyết định trong sản xuất kinh tế không chỉ còn là những đất đai, hầm mỏ năm trong lòng đất hay tiền bạc do cha mẹ, ông bà để lại, mà sự giầu có lại nằm chính trong đầu óc con người, với những phát minh sáng tạo. Trong vấn đề quản trị xí nghiệp ngày hôm nay, thông tin và kiến thức, được coi như uy quyền và ảnh hưởng, không còn được chuyển theo hàng dọc, từ trên xuống dưới với những hạn chế và gạn lọc, mà ngược lại được chuyển tối đa theo hàng ngang, để mọi người, mọi thành phần trong xí nghiệp có thể theo dõi đời sống của xí nghiệp, tham gia tích cực vào cuộc sống của xí nghiệp.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt; II) Công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ chống độc tài của chúng ta đang đi đúng chiều hướng chiến lược chống khủng bố, dân chủ hóa thế giới, kinh tế toàn cầu của các cường quốc trên thế giới.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;- Phía Hoa Kỳ: Ngày 17/9/02, một năm một tuần lễ sau ngày khủng bố không tặc 11/9/01 trung tâm Thương Mại, Nữu Ước, tổng thống Hoa Kỳ G. W. Bush cho công bố một tài liệu của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, mang tên là Chiến Lược An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ. Đây là một tập tài liệu dày vào khoảng 33 trang bằng tiếng Anh, là một công trình nghiên cứu từ lâu của một số trí thức mà có rất nhiều người hiện giữ chức vụ quan trọng trong chính quyền. Nếu chúng ta đọc kỹ, thì chúng ta thấy những nguyên nhân xâu xa đưa đến tài liệu này, như tư tưởng của Francis Fukuyama về mô hình tổ chức nhân xã dân chủ tự do và kinh tế thị trường, trong quyển sách Sự kết Thúc Lịch sử và Con Người Cuối cùng (The End of the History and the last Man); và ảnh hưởng gần trên tập tài liệu chiến lược này là tư tưởng chiến lược của đương kim Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng Paul Wolfowitz, trong tài liệu Hướng Dẫn Kế hoặch Quốc Phòng (the Defense Planning Guidance) viết vào năm 1992. Đấy là chưa nói đến ảnh hưởng cá nhân của tổng thống Bush, ngoạn trưởng C. Powell, bộ trưởng quốc phòng D. Rumfelt và cố vấn an ninh C. Rice. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Mục đích ngắn hạn của Chiến Lược An Ninh Hoa Kỳ là nhằm tiêu diệt khủng bố. Hai ngày sau cuộc khủng bố ngày 11/9/2001, ông P. Wolfowitz tuyên bố: « Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta phải nhận ra rằng vấn đề chống khủng bố không chỉ đơn thuần, đơn giản trong việc bắt giữ khủng bố hay xét xử họ, mà còn phải tẩy chay, và nhất là hóa giải những cơ cấu hậu thuẫn khủng bố, kể cả những chế độ giúp đỡ khủng bố. »; và ngày 20/9/2001, tổng thống Bush tuyên bố: « Kể từ nay, những quốc gia nào hậu thuẫn hay cung cấp nơi ẩn náu cho khủng bố, chúng ta sẽ coi quốc gia đó là thù nghịch. Vì vậy, tất cả các quốc gia, ở bất cứ nơi nào trên thế giới, hãy tự quyết định cho mình: Là đồng minh của Hoa Kỳ hay là đồng minh của khủng bố. »&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Mục đích dài hạn của Chiến Lược An Ninh Hoa Kỳ là làm thế nào để thực hiện mô hình tổ chức nhân xã dân chủ tự do, kinh tế thị trường, vì những chế độ độc tài là mầm mống là ổ nuôi dưỡng khủng bố. Cũng trong bài diễn văn ngày 20/09/2001, tại lưỡng Viện, G.W. Bush tuyên bố về chính sách ngoạn giao lâu dài của Hoa Kỳ: « Chiến tranh mang đến sự sợ hãi; nhưng đồng thời chiến tranh cũng mang đến dân chủ tự do. Sự tiến bộ của tự do dân chủ nhân loạn, thành quả vĩ đại nhất của thời đại chúng ta, và cũng là hy vọng cao cả nhất của mọi thời đại, hiện đang tùy thuộc vào chúng ta. Đất nước chúng ta, thế hệ chúng ta hôm nay sẽ có bổn phận xua tan khỏi nhân loạn, khỏi thế giới bóng đêm thù nghịch của khủng bố và của độc tài.... Chúng ta theo đuổi mục đích cao cả dân chủ tự do một cách cương quyết, không mệt mỏi, cho tới khi nào dân chủ tự do toàn thắng trên toàn thế giới. »&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Về phía Cộng Đồng Âu Châu, hiện tượng các vị Nghị Sĩ của Quốc Hội Âu châu gặp Phan văn Khải gần đây đặt điều kiện về nhân quyền mới đầu tư và giúp đỡ VN, chúng tỏ là họ đang giúp cách này hay cách khác chúng ta.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Vì vậy chúng ta có thể nói công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, chống độc tài của chúng ta đang được cộng đồng thế giới ủng hộ.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;III)Công cuộc đấu tranh của chúng ta đang hợp lòng dân. &lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Thật vậy, công cuộc đấu tranh của chúng ta ở quốc nội cũng tiến triển tốt đẹp. Chính vì vậy mà CSVN tăng cường đàn áp, quản thúc người này, bắt giam người nọ, xử án, bỏ tù người kia. Tuy nhiên tất cả những công cuộc đàn áp của bạo quyền đã trở nên vô hiệu quả. Có người nói tuổi trẻ và dân Việt thờ ơ với chính trị và vận nước. Điều đó hoàn toàn sai. Chính tờ báo Tuổi Trẻ, xuất bản vào đầu năm 2003, đã làm một cuộc thăm dò ý dân và tuổi trẻ, thì 89% dân và giới trẻ đều đồng ý là phải dân chủ hóa chế độ và chống tham nhũng. Dân và giới trẻ đã nhìn thấy tử huyệt của cộng sản để đấu tranh. Họ không nói thẳng rằng các ông lãnh đạo CS chúng tôi chống các ông, nhưng nói gián tiếp là chống tham nhũng vì 70% tham nhũng là cán bộ CS cao cấp. Dân không nói thảng: Các ông lãnh đạo chúng tôi chống các ông vì các ông độc tài, nhưng nói là họ ước muốn dân chủ.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Đồng bào trong nước còn nhìn thấy hành động bán nước hại dân của CSVN. Thật ra thì từ lâu CSVN đã dâng đất cho Trung Cộng. Ngay từ năm 1953, khi sửa chữa đường xe lửa Việt Hoa, Trung Cộng đã tự ý dời những cột mốc biên giới về phía nam, lấy đất của chúng ta. CSVN lúc đó có phản đối, nhưng phản đối cho lấy lệ. Năm 1958, Phạm văn Đồng viết thư cho Chu Ân Lai công nhận yêu sách hải phận 12 hải lý của Trung Công, và như vậy là đã dâng quần đảo của Vn cho Trung Quốc.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Việc dâng đất nhượng biển cho Trung Quốc đã đặt quân đội vào trong một tình trạng khó xử. Nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ sự an ninh của dân và sự toàn vẹn lãnh thổ. Nay một thiểu số đạo đem giang sơn đi dâng hiến ngoạn bang, vì cố bám víu vào quyền hành. Nếu quân đội im lặng, thì làm trái lại nhiệm vụ của mình, nếu lên tiếng thì phải chống lại thiểu số cầm quyền. Và đã có những người dám lên tiếng như tướng Trần Độ và đại tá Phạm quế Dương.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, chống lại chế độ độc tài CS hiện nay đang đi đúng chiều hướng văn minh của nhân loạn, đúng chiều hướng chiến lược toàn cầu của các nước trên thế giới, hợp lòng người, hợp lòng dân, chắc chắn se đưa chúng ta tới thành công.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Paris ngày 03/07/03&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Chu chi Nam&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/a_272_a_7845_u_tranh_a_272_ung_chia_7873~1795406/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>politics</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/a_272_a_7845_u_tranh_a_272_ung_chia_7873~1795406/#comments</comments></item><item><title>CHIẾN THẮNG CỦA NHỮNG NGƯỜI MAN DẠI</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/chia_7870_n_tha_7854_ng_ca_7910_a_nha_79~1795390/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/chia_7870_n_tha_7854_ng_ca_7910_a_nha_79~1795390/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 04:21:16 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;NHÂN NGÀY 30 THÁNG TƯ,&lt;br&gt;
NGẪM LẠI CHIẾN THẮNG CỦA NHỮNG NGƯỜI MAN DẠI&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Chu chỉ Nam&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; &lt;em&gt;« Từ độ người về hỡi loài man dại !&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Dẫu vô tri sỏi đá cũng buồn đau.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tiếng thở dài vang tận đáy sông xâu.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Màu đỏ oan cừu hành hung phố chợ. »&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;( Vũ hoàng Chương)&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nhân ngày 30 tháng tư, chúng ta cũng nhau suy ngẫm về « chiến thắng » của những người cộng sản. Nhà văn Dương thu Hương, cùng đoàn quân, tới Sài gòn liền sau « ngày chiến thắng », thấy cảnh sung túc và cuộc sống văn minh của miền Nam, bà đã tìm một góc phố, hẻo lánh, ngồi xuống, bật tiếng khóc, theo như lời bà kể, và than lên : « Tôi đã cùng đoàn quân chiến thắng. Nhưng kẻ chiến thắng chính là những kẻ man rợ ; còn người chiến bại, chính là những người văn minh ! »&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Thật vậy, trong lịch sử, những kẻ man dại chiến tháng người văn minh cũng không phải là không có. Nhưng đó chỉ là chiến thắng của những kẻ vũ phu, chứ không phải chiến thắng của lý trí, của lẽ phải, của lương tâm và lương tri con người, như một cau trâm ngôn Pháp nói : « Sức của bạo lực chứ không phải sức mạnh của lẽ phải » ( Raison de la force ou force de la raison). Thường ra thì sức mạnh của bạo lực không có bền lâu. Ngược lại, sức mạnh của lẽ phải, mặc dầu lúc đầu có vẻ yếu thế, nhưng về sau sẽ thắng thế và trở nên trường cửu. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chúng ta hãy xét lịch sử để thấy rõ. Vào đầu thế kỷ 13, ở phía bắc xứ Tàu, có dân tộc Mông cổ rất dũng mãnh, gian ác, tàn bạo, đi ngựa giỏi, bắn cung hay, đúc kiếm tốt, cầm đầu bởi Thành cát tư hãn, đã chiến thắng từ Đông sang Tây, lập nên một đế quốc to lớn chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Tuy vậy, nhưng đã bị dánh bại 3 lần ở Việt Nam vào những năm 1257, 1284 và 1287. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Mặc dầu chiến thắng lãy lừng, nhưng chiến thắng của Thành cát tư Hãn và con cháu cũng chỉ là chiến thắng của những kẻ man dại, như cả thế giới và sử gia sau này đều công nhận như vậy. Nhìn vào văn minh và văn hóa thế giới, đế quốc Mông Cổ không để lại một cái gì cho nhân loại, ngoài việc hiện nay chỉ còn là một nước nhỏ bé với 2 398 000 dân, đời sống còn lạc hậu, thấp kém, vẫn còn giữ tính chất bộ lạc của thời du mục. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Thành cát tư Hãn có một câu nói bất hủ : « Thú vui duy nhất của đời ta là đi chiếm đất, chiếm nhà của người, lấy vợ người làm vợ mình, lấy con người làm nô lệ cho mình. » Câu nói này nó nói lên đầy đủ bản chất của những kẻ man dại, thích giết người cướp của, khác hẳn với những người văn minh, thích hòa bình, tự tạo lập cho mình. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Từ đo, chúng ta xét bản chất của những người cộng sản. Thi sĩ Vũ hoàng Chương và nhà văn Dương thu Hương gọi những người cộng sản cũng là những loài man dại. Họ có lý. Bản chất của những người cộng sản cũng là ác ôn, côn đồ, giết người, cướp của. Sự khác biệt, đó là người cộng sản tự khoác lên mình 2 cái áo đạo đức giả : chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc gia. Trong khi đó thì Thành cát tư Hãn và dân Mông cổ lúc bấy giờ không dấu diếm, che dạy, nói thẳng cho mọi người biết là ta thích cướp của, giết người. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nhưng rồi sự thật vẫn là sự thật, mặc dầu được che dấu đén đâu chăng nữa ; bản chất man dại, cướp của, giết người của người cộng sản cũng lộ nguyên hình. Đó cũng là một trong những lý do chính đưa đến sự sụp đổ của đế quốc cộng sản vừa qua, ở Nga và ở Đông Âu. Những người đấu tranh cho văn hóa, văn minh, cho tự do, dân chủ, chống lại cái gì man dại, độc đoán độc tài ở Liên xô trước đây đã lấy câu trâm ngôn Nga làm kim chỉ nam : « Một lời nói sự thật nặng hơn quả địa cầu » để chống lại cái gì là tuyên truyền và nói láo của cộng sản, như &lt;strong&gt;Gorbatchev&lt;/strong&gt;, cựu Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên sô, sau khi rời bỏ cộng sản, không ngần ngại và can đảm tuyên bó : « &lt;strong&gt;Mặc dầu tôi bỏ hơn 2/3 cuộc đời tranh đấu cho lý tưởng cộng sản ; nhưng ngày hôm nay, tôi phải đau đớn tuyên bố rằng : » Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo !&lt;/strong&gt; »  &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Những cái gì nói láo và tuyên truyền thì không thể lâu bền. Nói như Abraham Lincolt : « &lt;strong&gt;Người ta có thể nói láo một lần, hai lần ; nhưng người ta không thể nói láo mãi mãi. Người ta có thể lừa gạt một người, hai người ; nhưng người ta không thể lừa gạt cả một dân tộc.&lt;/strong&gt; » &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Dân tộc Việt Nam ngày hôm nay đã nhìn thấy rõ cái tuyên truyền, nói láo của cộng sản, ý thức rõ bản chất cái chiến thắng man dại. Chính vì vậy, mà cái gì là văn hóa, văn minh đang từ từ chiến thắng lại những cái gì là man dại, phản văn hóa, văn minh, ở Việt Nam. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Năm 1986, Phạm văn Đồng, Thủ tưóng cộng sản lúc bấy giờ có tuyên bố một câu bằng tiếng Pháp, khi tiếp xúc các nhà báo quốc tế : « &lt;em&gt;Chúng tôi đã chiến thắng chiến tranh. Nhưng chúng tôi đang chiến bại hòa bình&lt;/em&gt;. » ( Nous avons gagné la guerre. Mais nous sommes en train de perdre la paix.)&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Từ đó tới nay, chiến bại cộng sản trong hòa bình &lt;strong&gt;đã quá rõ&lt;/strong&gt;. Rõ trong việc cộng sản VN lệ thuộc ngoại bang, dâng đất, nhượng biển cho Trung Cộng. Rõ trong việc cộng sản « &lt;strong&gt;Bất tài, bất lực, bất lương&lt;/strong&gt; », như lời ông Phạm quế Dương, cựu đại tá cộng sản, cựu chủ nhiệm tờ báo Nghiên cứu lịch sử Quân đội Nhân dân, vì &lt;strong&gt;cộng sản đã đưa đất nước và dân tộc chúng vào chỗ tụt hậu, một trong những nước nghèo đói nhất thế giới, đạo đức bị suy đồi, kỷ cương bị băng hoại&lt;/strong&gt;. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Những người Việt tranh đấu cho văn hóa, văn minh, tự do, dân chủ, nhân quyền hãy tận nhân lực ! Rồi số phận sụp đổ của cộng sản Việt Nam sẽ sớm tới với chúng ta và dân tộc ! &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Paris ngày 29 tháng 4 năm 2004&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Trực Ngôn Chu chi Nam&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/chia_7870_n_tha_7854_ng_ca_7910_a_nha_79~1795390/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>politics</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/chia_7870_n_tha_7854_ng_ca_7910_a_nha_79~1795390/#comments</comments></item><item><title>Trần Hưng Đạo &amp; HCM</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/tra_7847_n_ha_432_ng_a_272_a_7841_o_aamp~1795380/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/tra_7847_n_ha_432_ng_a_272_a_7841_o_aamp~1795380/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 04:08:48 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;CON NGƯỜI THÁNH NHÂN THƯƠNG DÂN YÊU NƯỚC TRẦN HƯNG ĐẠO VÀ CON NGƯỜI GIAN MANH QUỈ QUYỆT BUÔN DÂN BÁN NƯỚC HỒ CHÍ MINH&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Viết để tưởng nhớ Thầy Bu.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chu chi Nam &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Dân và lịch sử không bao giờ lầm, nhất là về lâu dài. Ai có công thì được kính phục, tôn thờ nhiều khi được coi như thánh nhân, dân tự nhớ ơn làm ngày giỗ hàng năm. Ai có tội thì bị phỉ nhổ ngàn đời. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;em&gt;Những bạo chúa và chân tay bộ hạ thường bắt dân ca tụng, đúc tượng để thờ&lt;/em&gt;; nhưng khi bạo chúa bị hạ bệ hay chế độ của họ bị sụp đổ, thì dân tự động hạ hình, vứt tượng xuống đất. Điển hình là dân Việt đã tự động tôn Trần hưng Đạo lên làm thánh nhân, hàng năm tự động làm lễ để ghi ân ngài, ngược lại những bạo chúa như Staline và Saddam Hussein mà chúng ta đã có dịp thấy phản ứng phẩn uất của dân trên truyền hình khi chế độ cộng sản Liên sô sụp đổ, khi Saddam Hussein bị hạ bệ.&lt;br&gt;
Người ta có thể nói Staline đã được chính quyền, các đảng cộng sản ca tụng nhiều nhất, nhưng rồi hành động đồ tể của ông, một trong những kẻ giết người đứng đầu thế giới, đã bị phơi bày, kết án. Sau khi đồ tể bị hạ bệ, không những dân Nga Sô oán ghét mà cả thế giới. Saddam Hussein của Irak cũng vậy, chỉ giờ trước giờ sau, khi bạo chúa chạy trốn, thì dân Irak đã đạp hình, vứt tượng xuống đất. &lt;strong&gt;Ngày hôm nay chế độ cộng sản còn tồn tại ờ Việt Nam, bắt dân Việt phải tôn thờ Hồ chí Minh, nhưng ai cũng biết, nếu một ngày nào đó, chế độ này không còn, thì người dân sẽ vứt hình, đạp tượng Hồ chí Minh&lt;/strong&gt;. Người ta có thể nói ngay ngày hôm nay, người dân đã phỉ nhổ Hồ chí Minh qua những câu thơ, câu vè. Chưa bao giờ đất nước chúng ta có một nền văn chương truyền khẩu chửi chế độ như hiện nay.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Thật vậy, đức Trần hưng Đạo quả thật là một vị thánh nhân thương dân yêu nước, tài dức, văn võ kiêm toàn.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Hưng đạo vương là một người danh tướng đệ nhất, đánh giặc Nguyên có công, được phong làm Thái sư, Thượng phụ, Thượng quốc công, Bình Bắc đại nguyên súy, Hưng đạo đại vương....... Hưng đạo đại vương thực là hết lòng với vua, với nước, tuy rằng có quyền uy lừng lẫy, mà vẫn giữ chức phận làm tôi, không làm điều gì kiêu ngạo. Đang khi quân Nguyên quấy nhiễu, ngài cầm binh quyền, Thánh tông, Nhân tông cho ngài được chuyên quyền phong tước: trừ ra từ tước hầu trở xuống, cho ngài được phong trước rồi mới tâu sau. Thế mà ngài không dám tự tiện phong thưởng cho ai cả; phàm những nhà giàu mà ngài quyên tiền gạo để cấp cho quân ăn, ngài chỉ phong cho làm giả lang tướng mà thôi, nghĩa là tướng cho vay lương. Ngài cẩn thận như thế và ở với ai cũng thật là công chính cho nên đến khi ngài mất, từ vua cho chí bách tính ai cũng thương tiếc. Nhân dân nhiều nơi lập đền thờ phụng để ghi nhớ cái công đức của ngài (Trần trọng Kim - Việt Nam Sử lược trang 160, 161 Nhà Xuất bản Tân Việt Sài gòn).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Trần hưng Đạo tên thật là Trần quốc Tuấn, con của An sinh vương Trần Liễu, cháu gọi vua Trần thái Tông là chú ruột, quê làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Sử ghi Trần hưng Đạo mất ngày3 tháng 9 năm 13000 Dương lịch. Ngày sinh của ngài không rõ, nhưng sử gia cho rằng ngài sinh vào năm 1232.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Khi quân Mông cổ xâm lăng nước ta lần thứ nhất vào năm 1257, Trần hưng Đạo mới khoảng 25 tuổi và là một viên tướng nhỏ, có nhiệm vụ cầm quân án ngữ ở biên thùy phía bắc. Ba chục năm sau, khi quân Mông cổ xâm chiếm nước ta lần thứ 2 (1285) và lần thứ 3 (1287), Trần hưng Đạo được phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đôi quốc gia để chống giặc. Quân Mông cổ là quân mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, vó ngựa của chúng dẵm nát từ châu Á sang châu Âu, lập nên một đế quốc có thể nói là lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Lực lượng chúng huy động vào xâm lược đất nước chúng ta rất đông đảo và được chỉ huy bởi những tướng lừng danh trên thế giới, bách chiến, bách thắng, đặt duói sự chỉ huy của Thoát Hoan, thái tử Mông cổ. Thế lực quân Mông cổ cả hai lần đều rất mạnh, làm nhiều người nao núng, ngay cả vua Trần nhân Tôn, vào làn thứ hai, cũng lưỡng lự: Hay ta tạm hàng để cứu muôn dân !. Trần hưng Đạo đã khẳng khái trả lời: &lt;em&gt;Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã ! Trần hưng Đạo đã dùng chiến lược đoản trận đánh với trường trận. Ngài biết quân địch giỏi ở trận thế dài và rộng, vì quân Mông cổ lúc bấy giờ đúng đầu về đi ngựa, đấu kiếm và bắn cung. Nay ngài dụ quân địch vào ngõ hẹp, chia quân địch ra mà đánh tùng khúc một&lt;/em&gt;. Đó là đoản trận. Trong cuộc phản công lần thứ nhì 1285, ngài chém đầu Toa Đô, nguyên soái quân Mông cổ và khiến thái tử Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy trốn về Tàu. Lần thứ ba, 1287, Thoát Hoan phải cuống cuồng chạy trốn mới thoát mạng, phần lớn các tướng Mông cổ hoặc bị chém đầu, hoặc bị bắt sống. Trần hưng Đạo là tướng đầu tiên trên thế giới đánh bại quân Mông cổ, bách chiến bách thắng ở mọi nơi trên thế giới vào lúc bấy giờ. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ngoài về sự nghiệp quân sự, Trần hưng Đạo còn có tài về văn học. Sách cũ ghi lại, ngay từ lúc 7 tuổi, ngài đã biết làm thơ. Ngoài việc là tác giả bản Hịch Tướng sĩ nổi tiếng, ngài còn là tác giả hai quyển sách về tư tưởng quân sự Binh Thư Yếu Lược và Vạn Kiếp Bí truyền.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Đó là con người Trần hưng Đạo, so với con người Hồ chí Minh thì hoàn toàn trái ngược.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Hồ chí Minh con người gian manh, quỷ quyệt, ăn gian, nói dối vừa bẩm sinh, vừa tập thành&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Thật vậy người ta có thể nói Hồ chí minh là con người gian dối bẩm sinh. Ngay đến ngày sinh cũng dấu. Ngày hôm nay người ta biết đại khái là họ Hồ sinh vào khoảng năm 1890, tại làng Kim liên, huyện Nam đàn, tỉnh Nghệ an. Hồ chí Minh có 50 tên khác nhau, không thừa nhận gia đình, đối xử tệ bạc với anh chi. Hô Chí Minh rời Việt Nam năm 1911, làm phụ bếp trên một chiếc tàu Pháp, đi tìm đường nuôi thân, thế mà chính họ Hồ trong quyển Cuộc Đời Hồ chí Minh tác giả là Trần dân Tiến, chính thực là Hồ chí Minh, là đảng cộng sản Việt nam quỷ quyệt, gian manh, nói dối là đi tìm đường cứu nước, sự thực là tìm đường cứu thân, vì đã viết thư với lời lẽ tâng bốc nước đại Pháp xin vào học Trường Thuộc địa (Ecole des Colonies) nay trở thành Viện Quốc tế Hành chánh (Institut international d'administration publique) ở đại lộ Observatoire, Paris 6e.. Vào năm 1912 từ New York, ông đã viết thư cho Khâm sai Pháp ở Huế xin cho cha một công việc như thừa biện ở các bộ hoặc huấn đạo hay quản giáo với lời lẽ van xin, quỵ lụy viên quan Pháp này. Tên Nguyễn ái Quốc là tên họ Ho ăn cắp từ tên chung mà các cụ Phan chu Trinh, Phan văn Trường và Nguyễn thế Truyền dùng để viết báo chung ở bên Pháp. Tên Hồ chí Minh là tên ăn cắp từ một người khác ở bên Tàu. Năm 1920, họ Hồ đi theo Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, mặc dầu chưa phân biệt nổi Đệ Nhị và Đệ Tam. Vào những năm 20, cụ &lt;strong&gt;Phan bội Châu &lt;/strong&gt;cũng được những đại diện của Đệ Tam Quốc tế gặp để chiêu dụ; &lt;strong&gt;nhưng cụ từ chối vì nếu chấp nhận những điều kiện của tổ chức này có nghĩa là từ bỏ quốc gia, dân tộc&lt;/strong&gt;. Ngược lại &lt;u&gt;Hồ chí Minh lại chấp nhận và tự nguyện trở thành một đồ đệ mù quáng, trung thành; miễn sao thực hiện được tham vọng của mình, theo đúng trường phái cộng sản Staline, cứu cánh biện minh cho phương tiện; dùng bất cứ phương tiện nào để thực hiện được mục đích mình mong muốn, ngay dù vô đạo đức, phản luân lý, phản quốc gia, dân tộc&lt;/u&gt;.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ngoài việc gian dối bẩm sinh, Hồ chí Minh còn gian dối tập thành, được huấn luyện để trở thành gian dối. Sau khi theo Đệ Tam Quốc Tế, ông theo học trường Cộng sản Đông Phương, mà chương trình học phần chính là nói dối và phá hoại. Để được chấp nhận vào học, chỉ cần có chứng chỉ làm việc 2 năm ở một hãng xưởng. Bài học đầu tiên của trường là học trò phải học nói dối: mỗi học viên phải tự làm cho mình 3 phiếu lý lịch khác nhau và phải học thuộc lòng, để tùy cơ nói dối. Chương trình học sau đó có lý thuyết Mác Lê, một cách tóm lược và sơ khai, mà Hồ chí Minh đã sao chép lại trong quyển sách Đường Kách Mạng của ông. Phần chính còn lại là học tổ chức bất hợp pháp, lén lút phá hoại, nói một cách khác đi là học phá hoại, giết người, không coi luật pháp và đạo đức là gì cả.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Hồ chí Minh, con người vọng ngoại chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam và thế giới.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Được Đệ Tam Quốc Tế phái về Việt Nam để cướp chính quyền, vào đâu những năm 40, họ Hồ sống ở Bắc Bó, và đã đặt tên núi là núi K. Marx và suối là suối Lénine, ở nơi đây. Ngay cả lúc gần chết, viết di chúc, họ Hồ cũng chỉ mơ ước được gặp các cụ Mác và Lê, chứ không muốn gặp những vị anh hùng của dân tộc. Nếu chúng ta đọc lịch sử những nước cộng sản trên thế giới từ Đông âu, qua Trung cộng, Bắc Hàn, Cuba, chúng ta cũng không thấy một lãnh tụ cộng sản nào vọng ngoại như Hồ chí Minh. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Hồ chí Minh, con người bán nước&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ngày hôm nay, người ta nghĩ chỉ có Lê khả Phiêu bán nước với hai Hiệp Định 1999 va 2000 ký với Trung Cộng về lãnh thổ và lãnh hải, dâng cho Trung cộng gần 800 km2 lãnh thổ trong đó có ải Nam quan và thác Bản giốc; cùng 16 000 km2 vùng biển bắc Việt. Thực ra việc dâng đất cho Tàu đã có từ thời họ Hồ còn sống. Vào năm 1953, khi sửa đường xe lửa ở vùng biên giới Việt-Hoa, Trung cộng đã tự động rời một số cột mốc về phía nam, xâm lấn nước ta. Hồ chí Minh và đảng CS VN có phản đối trên báo chí thời đó. Nhưng phản đối cho có lệ.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ngày 4/9/1958, Trung cộng yêu sách quyền hải phận 12 hải lý, chỉ 10 ngày sau, tức ngày 14/9/1958, Phạm văn Đồng, Thủ tướng lúc bấy giờ, theo lệnh của Hồ chí Minh và Bộ Chính trị đảng Cộng Sản VN, đã gửi 1 bức thư cho Chu ân Lai, Tổng Lý Quốc Vụ Viện Trung Cộng, tương đương với thủ tướng, thoả mãn yêu sách của Trung Cộng, có nghĩa là gián tiếp dâng 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa cho Trung Cộng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; &lt;strong&gt;Hồ chí Minh, con người đưa dân tộc và đất nước vào vòng trầm luân, khổ ải&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ngày 19/8/1945, lợi dụng cuộc biểu tình của công chức Hà nội đòi tăng lương, Hồ chí Minh và đảng Cộng sản đã gửi người trà trộn vào đoàn biểu tình, đi đến chỗ cướp các công sở và cước chính quyền. Ngày 2/9/1945, Hồ chí minh tuyên bố Độc Lập. Nhưng thực tế là Hồ chí Minh đã làm hành động Đuổi hổ của trước, rồi dắt báo vào cửa sau, chính thức đặt Việt Nam duói gông cùm đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, đặt Việt Nam vào cuộc tranh hùng tư bản cộng sản, đưa dân Việt từ trận chiến này qua trận chiến khác. Không những ngoại chiến mà còn nội chiến, chủ trương bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, đưa đến cảnh con đấu bố, vợ tố chồng, bạn bè tìm cách sát hại lẫn nhau. Dân Việt từ 1945 tới nay, chưa bao giờ lầm than như dưới thời cộng sản. Dân Việt đã phải chịu cảnh đô hộ không biết bao lần, nào đô hộ Tàu, đô hộ Pháp, đô hộ Nhật; nhưng chưa bao giờ dân phải bỏ nước ra đi cả triệu người, và không phải một lần, mà 2 lần, như dưới thời đô hộ cộng sản.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Theo Tôn Tử, một nhà tư tưởng quân sự của Tàu cách đây 2 500 năm: Việc binh như việc lửa, dùng lâu ngày sẽ có hại vào thân...Việc binh kéo dài mà có lợi cho nước chưa từng có vậy (Tôn Ngô Binh Pháp - Ngô văn Triện dịch-trang 41). Hồ chí Minh chỉ nghĩ đến tham vọng cá nhân, thi hành bao cuộc chiến, mặc cho nước lầm than, dân phơi thây ngoài chiến trường, nhân lực và tài lực quốc gia khánh kiệt. Ở điểm này, so với đức Trần hưng Đạo, chúng ta mới thấy ngài yêu dân thương nước. Lời trăn trối cuối cùng của ngài cho vua Trần anh Tông là một bài học thương dân, yêu nước vô cùng quý giá: Làm thế nào thu hút được quân lính như cha con một nhà mới có thể dùng để chiến thắng được. Và phải khoan dùng sức dân để làm cái kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước, không còn gì hơn (Trần hưng Đạo- Binh Thư Yếu Lược- trang 23 nhà xuất bản Quê Mẹ Paris 1988). Khi chúng ta đọc ngài luận về tướng, chúng ta mới thấy rõ sự khác biệt giữa ngài và Hồ chí Minh. Ngài viết:&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Khí lượng của tướng, lớn nhỏ khác nhau. Tướng mà che điều gian, giấu điều họa,không nghĩ đến quần chúng oán ghét, đó là tướng chỉ huy mười người. Tướng mà dậy sớm khuya nằm, lời lẽ kín đáo, đó là tướng chỉ huy được trăm người. Tướng thẳng mà biết lo, mạnh mà giỏi đánh, đó là tướng chỉ huy được ngàn người. Tướng mà ngoài mặt hăm hở, trong lòng ân cần, biết người khó nhọc, thương kẻ đói rét, đó là tướng chỉ huy được vạn người. Tướng mà gần người hiền, tiến người tài, ngày thường cẩn thận, thành thực, rộng rãi, giỏi việc dẹp loạn, đó là tướng chỉ huy được mười vạn người. Tướng mà dùng nhân ái đối với kẻ dưới, lấy tín nghĩa phục nước làng giềng, trên biết thiên văn, dưới biết địa lý, giữa biết việc người, coi bốn bể như một nhà, đó là tướng chỉ huy cả thiên hạ, không ai địch được (Sách đã dân-trang 15).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Hồ chí Minh quả thật là người tướng che điều gian, giấu điều họa, không nghĩ đến quần chúng oán ghét. Hơn thế nữa ông còn đày ải dân, bán nước, ông là một &lt;strong&gt;tội đồ của dân tộc&lt;/strong&gt;, tội lớn hơn cả Mạc đăng Dung, Lê chiêu Thống. Trái lại, đức Trần hưng Đạo quả là một người từng yêu dân, thương nước, trên biết thiên văn, dưới biết địa lý, ngài quả là một vị tướng chỉ huy thiên hạ, không ai địch nổi.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Thế mà Hồ chí Minh lại hổn xược với ngài, gọi ngài bằng bác, xưng tôi, trong khi đó lại gọi Lénine, K. Marx là cụ. Năm 1945, khi viếng thăm viếng đền đức Thánh Trần, Hồ chí Minh đã đọc một bài thơ hổn xược như sau. Bài thơ này có người bảo không do ông làm ra, nhưng dù sao ông cũng đã đọc trong một dịp quan trọng, cũng nói lên cái tư cách hổn xược, tính ngông cuồng của Hồ chí Minh:&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;em&gt;Cũng cờ cũng kiếm cũng anh hùng&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tôi bác chung nhau nợ núi sông.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Bác phá quân Nguyên thanh kiếm bạc,&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tôi trừ giạc Pháp ngọn cờ hồng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Bác có anh linh cười một tiếng,&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Mừng tôi cách mạng đã thành công !&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Trần trọng Kim khi nhận xét về người Việt, có viết:&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Về đường trí tuệ và tính tình, thì người Việt Nam có cả tính tốt lẫn tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức, lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy nhiên vẫn có tính tinh vặt, cũng có khi quỉ quyệt, và hay bài bác, chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình, nhưng mà đã đi đến trận mạc, thì cũng có can đảm, biết giữ kỉ luật. (Trần trọng Kim Việt Nam sử Lược trang 18 Nhà xuất bản Tân Việt Sài Gòn).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chúng ta có thể nói đức Trần hưng Đạo và các tướng tá nhà Trần, từ trần Quang Khải, Trần bình Trọng tới Phạm ngũ Lão, là kết tinh của tất cả những gì là tính tốt của dân Việt. Chính vì vậy mà triều đại nhà Trần là một trong những triều đại vẻ vang, thịnh trị, dân sống an bình và hạnh phúc nhất. Ngược lại Hồ chí Minh và tay chân, bộ hạ trong đảng Cộng Sản là kết tinh tất cả những gì xấu xa của dân Việt. Vì vậy &lt;strong&gt;triều đại Hồ chí Minh là triều đại đen tối, bạo trị, dân sống đau khổ, lầm than chưa từng có trong lịch sử Việt&lt;/strong&gt;. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Paris ngày 21/03/2004&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Trực ngôn Chu chi Nam&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/tra_7847_n_ha_432_ng_a_272_a_7841_o_aamp~1795380/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>politics</category><category>hochiminh</category><category>vietcong</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/tra_7847_n_ha_432_ng_a_272_a_7841_o_aamp~1795380/#comments</comments></item><item><title>CHÍNH SÁCH ĐÀN ÁP TÔN GIÁO CỦA NHỮNG CHÍNH QUYỀN CỘNG SẢN</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/chinh_sach_a_272_an_ap_ton_giao_ca_7910_~1795369/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/chinh_sach_a_272_an_ap_ton_giao_ca_7910_~1795369/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 03:53:39 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;CHÍNH SÁCH ĐÀN ÁP TÔN GIÁO CỦA NHỮNG CHÍNH QUYỀN CỘNG SẢN, ĐẶC BIỆT LÀ CỘNG SẢN VIỆT NAM&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chu chi Nam&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;I) Quan niệm về tôn giáo của K. Marx&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;1) Về vấn đề tôn giáo, K. Marx bị ảnh hưởng xâu đậm bởi Feuerbach, một &lt;strong&gt;triết gia duy vật quan niệm tất cả mọi vật đều thâu tóm về vật chất&lt;/strong&gt;. Nhưng rốt cục chủ nghĩa duy vật cũng chỉ là một chủ nghĩa duy ý trá hình, thay vì cho rằng ý tưởng tạo ra mọi vật, thì nay cho rằng vật chất sinh ra vạn vật, cuối cùng chỉ đi vào vòng luẩn uẩn Con gà để ra cái trứng hay cái trứng đẻ ra con gà, câu hỏi mà những nhà khoa học thực sự, trước ngay cả Marx, đã từ chối bàn cãi, vì họ biết rằng khoa học không đủ bằng cớ để có một câu trả lời thoả đáng. Trái lại, những nhà duy vật không co cái khiêm nhượng đó, đã thản nhiên xác nhận vật chất sinh ra vạn vật.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;2) Quan niệm quá khích của Feuerbach về vấn đề tôn giáo, khi ông muốn biến con người thành thiên thần, thành Thượng Đe, ông viết: Khúc quanh lớn của lịch sử nhân loại là lúc mà nhân loại ý thức được rằng Thượng Đế của con người chính là con người vậy.. Nhưng khi suy nghĩ kỹ về những hậu quả của cộng sản trong thế kỷ qua, người ta thấy quan niệm trên của Feuerbach không làm cho con người, nhân loại trở nên thần thành, Thượng Đế, mà chỉ mở cửa độc đoán, độc tài cho những người lãnh đạo cộng sản muốn làm gì thì làm, ngay cả việc bỏ tù, giết người vô duyên cớ, biến dân sống duói sự thống trị của họ thành nạn nhân, đưa đến thảm trạng của thế 20 vừa qua là gần 100 triệu người chết vì những giới lãnh đạo CS tự cho mình là thần thánh, là Thượng Đế.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;3) Quan niệm đơn giản của Marx cho rằng Thượng Đế là hình ảnh ngược lại (image renversée ) của con người khốn cùng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt; II) Những chính sách tôn giáo của những đồ đệ của Marx&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;1) Theo Lénine thì tôn giáo là thuốc phiện của dân.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;2) Theo Mao trạch Đông: Khổng Tử là con chó giữ nhà của phong kiến.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;3) Cộng sản VN thì gọi Thượng Đế là thằng qua những câu thơ sau đây:&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Bàn tay lao động tuyệt vời,&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Gọi đất dạ, chỉ Trời, Trời vâng.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Thằng Trời ngồi đó chớ ra,&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Để cho nông hội đứng trên thằng Trời,&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Thằng Trời hãy ngồi đó chơi,&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Để cho nông hội thay Trời làm mưa.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; &lt;strong&gt;III) Những hành động đàn áp tôn giáo của CSVN&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;1) Đàn áp Phật giáo&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;2) Đàn áp Thiên Chú giáo&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;3) Đàn áp Hòa hảo&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;4) Đàn áp Cao Đài và Tin Lành.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;IV) Kết luận:&lt;/strong&gt; &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tôn giáo là một phần của văn hóa, văn minh của con người, nếu không muốn nói chính là văn minh như Huntington nói. Ở đây chúng ta thấy một sự sai lầm to lớn của K. Marx trong việc chủ trương bãi bỏ tôn giáo, chính là bãi bỏ văn hóa và văn minh.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Âu châu ngày 18/03/03&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Chu chi Nam&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/chinh_sach_a_272_an_ap_ton_giao_ca_7910_~1795369/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>vietcong</category><category>politics</category><category>communism</category><category>religion</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/chinh_sach_a_272_an_ap_ton_giao_ca_7910_~1795369/#comments</comments></item><item><title>CHẾ ÐỘ DÂN CHỦ, CHẾ ÐỘ CỘNG SẢN, PHÁT XíT ,CHẾ ÐỘ NÀO PHỤC VỤ CON NGƯÒi VÀ DÂN TỘC ?</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/cha_7870_ea_7896_dan_cha_7910_cha_7870_e~1795363/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/cha_7870_ea_7896_dan_cha_7910_cha_7870_e~1795363/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 03:47:05 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;CHẾ ÐỘ DÂN CHỦ, CHẾ ÐỘ CỘNG SẢN, PHÁT XíT ,CHẾ ÐỘ NÀO PHỤC VỤ CON NGƯÒi VÀ DÂN TỘC ?&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;                  Chu chi Nam   &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;                  «  Hưng vong biết chửa, người kim cổ ?&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;                     Tiếng quốc năm canh, bóng nguyệt mờ. »&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;                     ( Trần tuấn Khải - Vịnh thành Cổ loa.)&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chế độ là «  chính thể, phép tắc căn bản của một chính phủ đặt ra theo đó mà trị nước » ( Theo Việt Nam Tự Ðiển của Lê văn Ðức và Lê ngọc Trụ - Nhà xuất bản Khai Trí). Nếu chúng ta căn cứ theo chữ Pháp «  le régime « thì có nghĩa là trật tự, cơ chế, hiến pháp, hình thức của một quốc gia, cách cai trị quốc gia ấy ( le régime = ordre,constitution, forme d’un Etat, manière de gouverner – theo tự diển Larousse). Theo tự điển Robert, thì chế độ là cách quản trị, cách cai trị một cộng đồng, hay là cách tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội một quốc gia ( le régime = façon d’administrer, de gouverner une communauté ; organisation politique, économique et sociale d’un Etat).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Chế độ dân chủ theo định nghĩa ngữ nguyên là một chế độ do dân làm chủ, có nghĩa là người dân có quyền lấy những quyết định chính trị quan trọng một cách trực tiếp như hình thức dân chủ trực tiếp, đang hiện hành ở một nước duy nhất trên thế giới này là Thụy Sĩ ; hay người dân có quyền tự do bầu người đại diện của mình ; nhưng đồng thời cũng có quyền truất phế người đại diện của mình, dưới hình thức dân chủ gián tiếp.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nói một cách khác đi, chế độ dân chủ là một chế độ mà trong đó tất cả mọi quyền tự do căn bản của con người được tôn trọng. Những quyền tự do căn bản của con người đã được ghi trong Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền và đã được Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc chấp nhận vào ngày 10/12/1948. Những quyền tự do căn bản này đi từ quyền tự do sinh sống, tự do mưu cầu hạnh phúc, tới tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do chính trị, tự do bầu cử, tự do tư hữu, tự do kinh tế v.v..&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;  Một chế độ độc tài là một chế độ mà trong trong mọi quyền tự do căn bản của con người bị trà đạp, đàn áp.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;  Chế độ cộng sản có phải là một chế độ độc tài không ?&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; – Ðó là một chế độ độc tài, vì nó độc khuynh, độc đảng, kinh tế tập trung, khác hẳn với chế độ dân chủ là đa khuynh, đa đảng và kinh tế tự do, không tập trung. Ðộc khuynh, vì chế độ cộng sản chỉ chấp nhận một nền tư tưởng triết hộc là lý thuyết Mác – Lê,  khác hẳn với đa khuynh là chấp nhận nhiều luồng tư tưởng, nhiều nền triết học khác nhau. Ðộc đảng, vì trong chế độ cộng sản, chỉ có một đảng là đảng cộng sản, khác hẳn với chế độ dân chủ là chế độ đa đảng, chấp nhận ít nhất là 2 đảng.. Chế độ cộng sản chủ trương kinh tế tập trung, bãi bỏ quyền tư hữu, ngược lại với chế độ dân chủ, chủ trương kinh tế tự do, tôn trọng quyền tư hữu.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;  Không những chế độ cộng sản là một chế độ độc tài, mà còn là một chế độ độc tài tòan trị như là độc tài phát xít Hitler ở Ðức và Mussolini ở Ý.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Danh từ tòan thể, tòan trị ( Totalitaire, Totalitarisme) đã được lãnh tụ đảng Phát xít Ý Mussolini dùng vào năm 1925, để chỉ tính cách tòan diện phong trào chính trị của ông, chống lại chủ nghĩa dân chủ, tự do.Nhà nước tòan diện là một nhà nước kiểu mới đi ngược lại chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tự do, dân chủ. Phong trào Phát xít của Mussolini đã dùng một câu trâm ngôn làm kim chỉ nam cho hành động của mình : «  Tất cả trong quốc gia, không có gì chống lại quốc gia, không có gì ngòai quốc gia. » Nhà nước tòan trị này nó giống nhà nước tòan trị cộng sản do Lénine và Staline dựng lên cách đó không lâu, vì Lénine và Trotski cướp chính quyền ở Nga năm 1917, thì Mussolini cướp chính quyền ở Ý năm 1922, Hitler nắm chính quyền năm 1933.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Từ năm 1929, những nhà nghiên cứu chính trị, nhất là những nhà nghiên cứu nguời Anh và Ðức đã dùng chủ nghĩa độc tài tòan trị ( dictature totalitaire hay totalitarisme) để chỉ chế độ độc tài toàn trị cộng sản và phát xít.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Năm 1951, bà Hannah Arendt, người Ðức, gốc Do Thái, phải chạy trốn Hitler qua Hoa kỳ vào những năm 30, đã xuất bản quyển sách Hệ Thống Toàn trị ( Le Système Totalitaire), nêu lên những điểm tương đồng của 2 chế độ tòan trị cộng sản và phát xít. Theo bà, chế độ độc tài tòan trị, nhất là tòan trị cộng sản, khác với chế độ độc tài ( la tyrannie) mà chúng ta biết từ trước, đó là chế độ độc tài thường chỉ có trong lãnh vực chính trị, trong khi đó độc tài cộng sản bao trùm mọi lãnh vực từ triết học qua chính trị, kinh tế, xã hội, nó đặt căn bản trên một ý thức hệ, đó là ý thức hệ Mác-Lê. Nó dùng ý thức hệ này để biện minh cho hành động đàn áp bằng bạo lực ; và từ đó nó chủ trương đọan tuyệt hẳn với quá khứ. Theo Mác : «  Người cộng sản bãi bỏ chân lý muôn thuở, bãi bỏ tôn giáo và đạo đức, thay vì cải tiến tôn giáo và đạo đức ; cũng từ đó, người cộng sản đi ngược lại tất cả những hình thái tổ chức và phát triển xã hội trước đó. » ( Le Manifeste du Parti communiste – trang 44 – Nhà xuất bản Union générale d’Editions- Paris). Chính vì vậy mà có những hành động tàn bạo, giết người, trại tập trung, phá hủy đén đài, văn hóa, di tích cổ truyền ở tất cả mọi nước cộng sản từ Liên sô qua Tàu, tới Việt Nam, Căm Bốt. Chỉ cần minh Pol Pot đã giết hơn 2 triệu người Căm Bốt, nửa số dân. Cộng sản Việt Nam cũng tàn ác không  kém Pol Pot, vì Pol Pot là con đẻ của cộng sản Việt Nam ; nhưng cộng sản Việt Nam ma lanh, xảo quyệt hơn, biết che dấu tội ác của mình.. Theo ông Massimo d’Aléma, cựu thủ lãnh đảng Cộng sản Ý, nay trở thành đảng Dân Chủ-Xã hội, thủ tướng Ý vào những năm cuối thập niên 90 : «  Chế độ cộng sản đã biến thành một sức mạnh đàn áp, một chế độ tòan trị, gây nên những tội sát nhân khủng khiếp nhất «  (Ðại hội Ðảng Dân chủ-Xã hội Ý năm 1998).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Ði từ một cái nhìn khác, có tính cách cơ chế nhiều hơn, hai nhà nghiên cứu chính trị Carl Friedrich và B. Brzezinski trong quyển « Totalitarian Dictatorship and Autocracy » đã đưa ra 6 đặc điểm của chế độ độc tài tòan trị, nhất là độc tài tòan trị cộng sản, như sau : &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;1) Một ý thức hệ Nhà nước bắt buộc ( une idéologie de l’Etat obligatoire) ;&lt;br&gt;
2) Ðộc đảng có nhiệm vụ quản chế dân ( Parti unique avec le but d’encadrer la masse) ;&lt;br&gt;
3) Ðộc quyền bạo lực ( Monopole de violence) :&lt;br&gt;
4) Ðộc quyền phương tiện truyền thông ( Monoploe des moyens de communication) ;&lt;br&gt;
5) Khủng bố dân ( Terreur de masse) ;&lt;br&gt;
6) Kinh tế tập trung trong tay nhà nước ( Economie centralisée).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Những tác giả khác đề nghị những tiêu chuẩn khác để xem xét những chế độ độc tài tòan trị, nhất là cộng sản. Từ những sai lầm và quan niệm đơn giản hóa lịch sử của Marx, những nhà lãnh đạo chính quyền toàn trị cộng sản muốn tạo ra một xã hội hòan tòan mới, trong đó sẽ không có đấu tranh giai cấp, tranh chấp xã hội. Họ tìm cách thực hiện xã hội đó qua việc thực hiện lý thuyết củq Marx mà họ cho rằng là khoa học. Nhưng thực tế, lý thuyết này không có tính chất khoa học, và còn phản kinh tế, phản tiến bộ ( Xin xem thêm Phê Binh Lý thuyết của Marx của tác giả bài này trên &lt;a href="http://www.danchu.net"&gt;www.danchu.net&lt;/a&gt; hay &lt;a href="http://www.conong.com"&gt;www.conong.com&lt;/a&gt; ). Ði từ ảo tưởng khoa học xã hội chủ nghĩa, khoa học lịch sử, những người cộng sản tự cho mình là đi đúng chiều hướng lịch sử, những ai đi ngược lại là phản động, vì vậy họ tự cho phép mình làm bất cứ một điều gì, nhất là khi họ có quyền, ngay cả việc bỏ tù, chém giết không duyên cớ, đày ải không xét xử. Ngày hôm nay những người phản động chính là những ngưới cộng sản, vì họ đi ngược lại ý nguyện, quyền lợi của dân, đi trái đà tiến bộ của nhân loại là đi đến dân chủ, tự do, tôn trọng nhân quyền.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Chế độ độc tài tòan trị phát xít ít nhấn mạnh đến ý thức hệ, nhưng nhấn mạnh đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cho rằng giòng giống Aryen của dân tộc Ðức là dân tộc ưu việt, khinh khi mọi giòng giống khác, nhất là dân tộc Do Thái. Theo Hitler và những người phát xít, thì giòng giống Aryen là giòng giống tinh khiết, trong sáng nhất, không có sự pha trộn những giòng giống khác, nên thông minh nhất. Ðây là một quan niệm hoàn tòan phản khoa học. Chỉ tiếc thay là một số dân tộc Ðức và một số trí thức đã nghe theo lời điên cuồng của Hitler, đi đến chỗ giết cả 7 triệu dân Do Thái và gây hấn chiến tranh với ngững quốc gia khác. Quả  là một vết nhơ cho lịch sử dân tộc Ðức, mà khi được hỏi, những vị thủ tướng liên tiếp của Ðức như  Kohl, Schroeder, rằng có nên quên giai đoạn lịch sử Hitler hay không, thì họ trả lời ngay rằng không nên quên, mà còn phải nhắc lại, để cho con cháu dân tộc Ðức không những không quên, mà còn suy ngẫm, tránh cho lịch sử tương lai không mắc lại  những lỗi lầm đáng tủi nhục đó.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Chế độ độc tài toàn trị cộng sản và phát xít Hitler đều dựa trên những quan niệm sai lầm về khoa học. Không có một nhà khoa học nào chứng minh được rằng có một chủng tộc tinh khiết, không pha trộn, đó là sai lầm của Hitler và những người phát xít. Còn những người cộng sản, bắt đầu từ Marx, tự cho lý thuyết của mình là khoa học, tin rằng có khoa học xã hội, kinh tế, lịch sử.Không ! Không có khoa học chính xác về xã hội, kinh tế, lịch sử, vì chính trị, lịch sử, kinh tế, xã hội chỉ là những khoa học nhân văn, những biến cố của khoa học nhân văn không lập lại giống nhay như khoa học chính xác tón học, vật lý, thiên văn, vì thế , không thể có những định luật cho những khoa học này, mà chỉ có thể có những khuynh hướng, như theo ông Karl Popper, một nhà triết học và phê bình khoa học lớn của thế kỷ 20, những sách của ông đã được những người như thủ tướng Ðức hemut Kohl, Helmut Schmidt làm sásh gối đầu giường và thủ tướng Pháp Edgare Faure lập ra Hội những Người bạn của Popper vào những năm 80.  Marx đưa ra như ng đ ị nh luật cho kinh tế  và  lịch sử  là  sai lầm. ( Xin xem thêm bài Sự Hồ Ðồ của Marx theo K. Popper của tác giả bài này trên &lt;a href="http://www.danchu.net"&gt;http://www.danchu.net&lt;/a&gt; và &lt;a href="http://www.conong.com"&gt;http://www.conong.com&lt;/a&gt; , &lt;a href="http://chuchinam.tripod.com/"&gt;http://chuchinam.tripod.com/&lt;/a&gt; ).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Chúng ta thấy cả 2 chế độ độc tài tòan trị cộng sản và phát xít có những điểm khác nhau ; nhưng cũng có những điểm tương đồng. Cả hai đều tôn thờ lãnh tụ, một bên là Hitler, Mussolini, bên kia là Lénine, Staline, Mao, Hồ, Kim Nhật Thành, Fidel Castro. Cả hai đều dùng bạo lực để đàn áp đối lập và người dân ; lúc đầu thì dùng bạo lực thiểu số như chân tay, bộ hạ cuồng tín để khủng bố đám đông ; sau đó lại dùng đám đông khủng bố lại thiểu số không cùng chánh kiến ; cả hai đều độc quyền bạo lực và truyền thông, không ngần ngại dùng bất cứ phương tiện truyền thông nào, ngay cả vu khống, bôi bác, bóp méo sự thật, lập đi lập lại những điều không có, a dua, vào hùa để bắt nạn nhân phải nhận tội, như hình thức tòa án nhân dân của cộng sản và cả của phát xít Hitler với những người Do Thái. Cả hai chế độ đều khai thác tối đa bản năng thấp hèn, thú vật của con người. Nói như ông Lê xuân Tá, một trí thức, một cán bộ truyên truyền cao cấp của cộng sản Việt Nam, nhưng nay đã nhìn thấy bộ mặt ác ôn, man dại của cộng sản : «  Sự ngu muội và thấp hèn thường tự nó không gây ra tội ác. Nhưng nếu được trao quyền lực, rồi cấy vào đó chất men ghen tỵ và căm thù, thì nó trở thành quỉ nhập tràng. Nó sẽ nhanh chóng ý thức được rằng các đe dọa quyền và lợi của nó lại chính là trí tuệ, học vấn, văn hóa và văn minh.. Rút cục, những thứ này đã bị tấn công và trà đạp bằng một sự căm hờn diên cuồng và man rợ… Nhưng may thay, lại chính những thứ độc dược đó đã kết lại thành những thứ sỏi mật, sỏi thận, sơ gan, cổ chướng trong lục phủ ngũ tạng của chế độ cộng sản, làm chế độ này không bị ai đánh mà tự chết. » ( Lê xuân Tá - Diễn Ðàn - số 27 tháng 2/1994 – Paris).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Thật vậy, lịch sử nhân lọai có nhiều trang sử đẫm máu và đau thương ; nhưng không có trang sử nào đẫm áu và đau thương như những trang sử viết nên bởi chế độ độc tài tòan trị phát xít Hitler, Mussolini và chế độ độc tài tòan trị cộng sản. Bảy triệu dân Do Thái chết oan uổng, đau đớn. Ðệ Nhị Thế chiến xẩy ra, lỗi chính là tại Hitler, với số nạn nhân gần 50 triệu người. Từ quan niệm đấu tranh giai cấp, bạo động lịch sử, qua các vụ đánh tư bản mại sản, «  Trí phú hào, đào tận gốc, trốc tạn ngọn ", qua những cuộc cải cách ruộng đất, cách mạng văn hóa, số nạn nhạn cộng sản còn lên đến gần 100 triệu người, như những nghiên cứu của những sử gia Pháp Courtois, Margolin và một số người nữa trong Quyển Sách Ðen về Chủ Nghĩa Cộng sản ( Le Livrvre noire du Communisme).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Chính vì vậy mà chế độ độc tài tòan trị phát xít đã cáo chung, chế độ độc tài tòan trị cộng sản đã xụp đổ ở Nga sô và Ðông Âu. Ngày hôm nay chỉ còn lại 4 chế độ cộng sản trong 217 quốc gia trên thế giới. Giới lãnh đạo và một số trí thức hèn hạ hay ngu dốt của những chế độ này cố tình bênh vực những cái gì không thể bên vực đươc, cố tình đi ngược lại quyền lơi của dân và đà tiến bộ của nhân loại, là đi theo chiều hướng tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền..&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Bất cứ một chế độ độc đoán, độc tài nào, từ cổ chí kim, từ đông qua tây, từ phát xít đến cộng sả, đều dựa trên 2 cột trụ chính : đó là bộ máy quân đội, công an kìm kẹp và bộ máy tuyên truyền, vu khống, bôi bác hay che dấu sự thật. Chỉ cần nhìn vào phần trăm to lớn của ngân sách quốc phong, công an, thông tin tuyên truyến, và phần trăm bé nhỏ mà một chính quyền dành cho y tế, giáo dục, thì chúng ta  cũng có thể nói chính quyền đó là một chính quyền độc tài hay không, có lo cho người dân hay không, vì y tế, giáo dục là 2 yếu tố quan trọng của đời sống người dân.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Chúng ta hãy cùng nhau xét bảng sơ lược về tổng sản lượng, vê phần trăm chi tiêu y tế, giáo dục và quân sự của một số quốc gia dưới chế độ độc tài toàn trị như Việt Nam, Căm Bốt, Trung Cộng, Bắc Hàn và một số quốc gia dưới chế độ dân chủ như Thái lan, Nam Hàn, Ðài loan, Pháp, Hoa Kỳ, Anh, Ðức, Na Uy v.v, để nhìn thấy rõ chế độ nào phục vụ người dân.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;(schema)&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;( Những con số trên lấy từ quyển sách « l’Année stratégique 2005 sous la direction de Pascal Boniface » – Nhà xuất bản Armand Colin – Paris. Có một số con số được làm tròn, để dễ nhớ . Riêng về phân Tiền hàng năm tính theo đầu người về y tế và giáo dục là do tác giả bài này thêm vào.)&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Chúng ta chỉ cần nhìn vào bảng số trên, bắt đầu bằng chi tiêu về y tế. chế độ độc tài cộng sản Việt Nam chi tiêu về y tế cho người dân thấp nhất không những so với những nước trong vùng mà có thể nói so với thế giới. Về tỷ lệ, cộng sản Việt Nam để ra 1,5% TSL quốc gia cho y tế, thua cả Lào và Căm Bốt là 1,7%, trong khi đó những chế độ dân chủ họ bỏ ra tỷ lệ cao về y tế, Thái lan là 2,1% ; Nam Hàn là 2,6% ; Hoa Kỳ là 6,2%, Anh là 6,3%, Ðức là 8,1%. Chi tiêu y tế tính theo đầu người hàng nam, Cong sản Viet Nam bỏ ra là 6,6$ ; Na Uy là 2878$ ; Anh là 1667$ ; Hoa Kỳ là 2240$.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Về giáo dục, chế độ độc tài cộng sản Việt Nam cũng là một trong những nước đứng cuối sổ. Việt Nam bỏ ra 2,8% TSL quốc gia cho giáo dục ; Na Uy là 6,8% ; Hoa Kỳ là 4 ,9% ; Pháp là 5,8%, chi tiêu tính theo đầu người hàng năm về giáo dục, thì Việt Nam là 12,32$ ; Na Uy là 2878$ ; Pháp 1395$ ; Hoa Kỳ là 1770$ ; ngay cả Thái lan cũng là hơn 100$ ; Nam Hàn là 355$ ; Ðài loan 1217$.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Ở trong bảng không có những con số chi tiêu về bảo vệ môi trưòng, nhưng chế độ độc tài cộng sản Việt Nam chỉ bỏ ra 0,10% TSL quốc gia về môi trường, trong khi những nước trên thế giới họ bỏ ra ít nhất là 1% hay 2 hoặc 3%, gấp tứ 10 dến 30 lần.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Một dân tộc thở khi không khí ô nhiễm, y tế thiếu thốn, ăn uống thiếu dinh dưỡng, nên hơn 40% dân Việ Nam bị nhiễm bệnh lao, như chính Giám Ðốc cơ quan bài chống lao của Việt Nam tuyên bố trong kỳ Hội Nghị Quốc Tế bài chống lao họp ở Hà Nội vào đầu năm 2003.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Về quốc phòng hay nói khác đi là cơ quan quân đội, công an đàn áp dân, Bắc Hàn đứng đầu với tỷ lệ là 8% TSL quốc gia, Việt Nam đứng thứ nhì với 6,76% ; trong khi những nước dân chủ khác như Na Uy với 2,19% ; Ðức với 1,14%.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Những con số trên còn phản bác lại tất cả những luận cứ của một số trí thức cộng sản, hoặc vì ngu dốt, hoặc vì hèn hạ, bảo rằng cần cải tổ kinh tế trước, rồi cải tổ chính trị sau. Ðây cũng là luận điệu của một số ngưòi trong đó có cả những vị đã là thủ tướng, phó tổng thống dưới thời Ðệ Nhị Cộng Hòa. Hỏi rằng, dưới chế độ độc tài cộng sản, dân không có sức khỏe, giáo dục thấp kém, vì giới lãnh đạo không lo cho người dân, làm sao mà có phát triển kinh tế như các nuớc dân chủ khác.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Không cần phải đi vào nghiên cứu, chỉ cần nhìn ở Việt nam, tình trạng trường sở đổ nát, giáo viên, giáo sư với đồng lương chết đói, nhà thương dơ bẩn, bác sĩ phần lớn không có lương tâm, dân phần lớn khi bệnh không dám đi bác sĩ, nhất là vào nhà thương, thì câu trả lời đã quá rõ ràng. Chỉ có những kẻ vô lương tâm, vô lương tri, đến bất cứ từ khuynh hướng chính trị nào, mới bênh vực chế độ độc tài cộng sản hiện giờ.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Thật vậy, chế độ độc tài tòan trị cộng sản không những đã gây ra bao nhiêu đau thương cho nhân loại với cả trăm triệu người là nạn nhân của nó, mà còn tiếp tục ở một vài nước cộng sản còn lại trong đó có Việt Nam. Ðiều này ai cũng nhìn thấy, ngay cả những người cựu cộng sản.. Ông Robert Hue, cựu Thư Ký Thứ Nhất Ðảng Cộng sản Pháp, trong quyển «  Communisme : la grande Mutation » cũng viết : » Chủ nghĩa Staline, đầu tiên và chắc chắn là một đại thảm họa cho con người : hàng triệu nạn nhân, những trại tập trung khủng khiếp, tính chất quái đản của những vụ xử kiện, quả thật là một chế độ giết ngườỉ ( Robert Hue - Communisme : la grande Mutation – trang 97- nhà xuất bản Stock – Paris). Ông Walter Veltroni, lãnh đạo đảng Dân chủ Xa hội Ý : «  Chúng ta đã đặt ngang hàng chủ nghĩa Staline với chủ nghĩa phát xít Hitler, đặt ngang hàng trại tập trung cải tạo với lò giết người Auschwitz. Tôi thiết tưởng không còn cách nào nói thẳng thắn và rõ ràng hơn về 2 chế độ độc tài giết người đó " (Ðại hội Ðảng Dân chủ Xã hội Ý tháng 2 năm 1998).&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;   Không còn chối cãi là thế kỷ 20 vừa qua, hai chế độ độc tài hữu phát xít và tả cộng sản đều gieo rắc tai họa, làm khổ người dân, nói chi đến phục vụ họ. Chế độ độc tài phát xít Hitler, Mussolini không còn nữa. Chế độ độc tài cộng sản đã sụp đổ ở Liên Sô và Ðông Âu, chỉ còn lại 4 nước, trong đó có Việt Nam. Dân Việt hãy cố gắng, kiên trì đấu tranh để giải thể chế độ độc tài tòan trị này, để xây dựng một chế độ dân chủ, trong đó một quyền căn bản của con người được tôn trọng, như đã đươc ghi trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Chỉ như vậy đất nước mơi có thể phát triển và theo kịp các nước chung quanh. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;                                      Paris ngày 2/01/2005&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;                                      Trực ngôn Chu chi Nam&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Robert Hue: cựu tổng bí thư đảng cs Pháp&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;a href="http://chuchinam.tripod.com/"&gt;http://chuchinam.tripod.com/&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;link:&lt;br&gt;
- &lt;a href="http://saigonxua.blog.ca/2007/02/23/ma_7896_t_va_7908_xuc_pha_7840_m_tho_ba_~1789648"&gt;Một sự xúc phạm đến niềm tin và tín ngưỡng &lt;/a&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/cha_7870_ea_7896_dan_cha_7910_cha_7870_e~1795363/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>politics</category><category>economy</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/cha_7870_ea_7896_dan_cha_7910_cha_7870_e~1795363/#comments</comments></item><item><title>TƯ TƯỞNG CỦA K. MARX PHẢN VĂN HÓA VÀ VĂN MINH</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/ta_431_ta_431_a_7902_ng_ca_7910_a_k_marx~1795342/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/ta_431_ta_431_a_7902_ng_ca_7910_a_k_marx~1795342/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 03:23:40 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;TƯ TƯỞNG CỦA K. MARX PHẢN VĂN HÓA VÀ VĂN MINH&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chu chi Nam &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt; Văn là đẹp, hóa là biến hóa. Văn hóa là biến hóa thành tốt đẹp. Nhưng một vẻ đẹp mà chiếu tỏa ra ánh sáng, vì minh là sáng, thì trở thành văn minh. Người Pháp định nghĩa đầu tiên chữ văn hóa ( la culture) là cái gì chống lại thiên nhiên ( la culture est ce qui contre la nature). Chẳng hạn một cục đá là thiên nhiên ; nhưng nếu chúng ta đẽo gọt, mài dũa để trở thành một pho tượng, thì đó là văn hóa. Vì vậy nên chúng ta thấy có thời kỳ văn minh đá đẽo và đá mài. Văn hóa theo nghĩa Tây phương còn là trồng trọt. Một mảnh đất chúng ta khai hoang, trồng cây ăn trái hay trồng cây lấy gỗ, đó là hành động làm văn hóa. Theo nghĩa rộng, văn hóa là tổng hợp tất cả những khía cạnh trí thức, nghệ thuật của một văn minh ( ensemble des aspects intellectuels et artistiques d’une civilisation – Le Robert-dictionnaire pratique de la langue française –năm 2004). Trong khi đó văn minh được định nghĩa là tổng số những hiện tượng xã hội bao gồm tôn giáo, đạo đức, thẩm mỹ, khoa học, kỹ thuật của một xã hội lớn ( ensemble des phénomènes sociaux (religieux,moraux,esthétiques, scientifiques, techniques) d’une grande société – Sách đã dẫn). &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nếu văn hóa và văn minh được định nghĩa như vậy, thì tại sao Karl Marx, một nhà trí thức lớn của nhân lọai, lại có người cho rằng tư tưởng của ông ta phản lại văn hóa và văn minh ? Chúng ta cùng nhau xem xét. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;I) Marx phản văn hóa và văn minh&lt;/strong&gt; vì Marx cho rằng để kiến tạo văn hóa và văn minh mới thì phải phá hủy văn hóa và văn minh cũ.&lt;br&gt;
Marx viết trong Tuyên Ngôn Thư Đảng Cộng Sản : » Từ đó, chủ nghĩa cộng sản bãi bỏ những chân lý muôn thưở, bãi bỏ tôn giáo và đạo đức thay vì cải thiện chúng ; và như thế, chủ nghĩa cộng sản đi ngược lại tất cả bất cứ sự phát triển lịch sử nào đi trước nó. » ( K ; Marx – Le Manifeste du Parti communiste – trang 44 – Union générale des Editions – Paris – 1962). &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Đây là một điều sai lầm to lớn và vô cùng tai hại của Marx và những người cộng sản, vì họ quan niệm rằng muốn tạo dựng văn hóa và văn minh mới thì phải hủy diệt văn hóa và văn minh trước đó. Ngày hôm nay, qua kinh nghiệm của gần một thế kỷ cộng sản, người ta nhận thấy rằng hủy diệt văn hóa và văn minh cũ là hủy diệt luôn văn hóa và văn minh. Ngược lại bảo tồn văn hóa và văn minh chính lại là sáng tạo văn hóa và văn minh. ( Xin xem thêm bài của của tác giả mang tựa đề Sứ Mạng Văn Nghệ Sĩ Trong Cuộc Đấu Tranh Toàn Dân, Toàn Diện, được đăng trong tạp chí Vùng Dậy số 4- tháng 1/1990 – Paris). &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Văn hóa và văn mình nhìn theo khía cạnh khác là tất cả những tích lũy tất cả những công trình làm việc của con người, từ thế hệ này qua thế hệ khác, nhằm cải thiện đời sống của nó trên 2 phương diện &lt;strong&gt;vật chất và tinh thần&lt;/strong&gt; :&lt;br&gt;
về vật chất, ít nhất khi con người đói, thì phải có cơm ăn ; khi rét thì phải có áo mặc ; khi bệnh thì phải có thuốc uống ;&lt;br&gt;
về tinh thần, thì tất cả những giá trị tinh thần được thăng tiến, để lánh xa đời sống cầm thú của thời ăn lông, ở lỗ, con người không bị áp bức, bóc lột, những quyền tự do căn bản của con người được tôn trọng. « Văn hóa = những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sừ. Văn minh = nền văn hóa có đặc trưng riêng, tiêu biểu cho một xã hội rộng lớn, một thời đại hay cả nhân loại. » (Đại Tự điển tiếng Việt - Nguyễn như Ý chủ biên – Nhà Xuất bản Văn Hóa - Thông Tin – Hà nội – 1998). &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nhìn vào những điều kiện tối thiểu kể trên của một xã hội văn hóa ,văn minh, chúng ta không thấy có ở những xã hội theo tư tưởng của Marx trước đây như Liên Xô và các nứơc Đông Âu, và hiện nay tại những nước cộng sản còn lại. Điều không ai ngạc nhiên khi Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn, Cu Ba bị xếp loại vào những nước nghèo đói và vi phạm nhân quyền nhiều nhất thế giới. Cũng như người ta không ngạc nhiên khi Hội Đồng 46 nước Âu Châu chấp nhận Nghị quyết 1481, vào ngày 25/01/2006, kết án chế độ cộng sản là chế độ giết người, diệt chủng, ngang hàng với chế độ Phát xít Hitler . &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Văn hóa, văn minh&lt;/strong&gt; có thể được ví, để dễ hiểu, như một cái cây : quá khứ là rễ cây, hiện tại là thân cây, tương lai là cành lá. Rễ cây phải ăn xâu vào lòng đất để hút nhựa lên nuôi thân và cành lá. Thân phải lớn để chuyển nhựa. Cành lá phải rườm rà để thâu hút không khí mọi nơi. Marx và những người cộng sản chủ trương hoàn toàn đoạn tuyệt với quá khứ chẳng khác nào như chặt đứt rễ cây, làm sao cây có thể sống, làm sao văn hóa, văn minh có thể tồn tại. Marx viết :&lt;br&gt;
« Cách mạng cộng sản là sự đoạn tuyệt hoàn toàn với chế độ cổ truyền về tư hữu ; không có gì ngạc nhiên, nếu trong tiến trình phát triển của nó, cách mạng cộng sản đọan tuyệt một cách hoàn toàn, không thương tiếc, do dự với những ý tưởng cổ truyền » ( K. Marx – Sách đã dẫn – trang 44). Và cũng trong tư tưởng đó, Trần độc Tú, người sáng lập ra đảng Cộng Sản Tàu, không ngần ngại tuyên bố ; « Nếu phải san bằng quá khứ để hiện đại hóa xứ Tàu, thì tôi sẵn sàng làm. » Ông đã lầm : san bằng quá khứ là tự thiêu hủy ; san bằng văn hóa, văn minh cũ là hủy diệt văn hóa và văn minh, không thể kiến tạo văn hóa và văn minh mới. Tất nhiên, con người cũng như một xã hội để tiến bộ không thể nào chỉ quay về quá khứ, nó phải hướng về tương lai, nhưng đồng thời phải bảo vệ quá khứ và cải cách nó. Hình ảnh văn hóa và văn minh vừa được ví như một cái cây là đúng nhất. Một cái cây, cũng như một nền văn hóa, văn minh, bị cắt đứt gốc rễ , thì làm sao sống, nói chi đến lớn mạnh ! &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chính vì chủ trương và áp dụng tư tưởng « Đoạn tuyệt không thương tiếc với những ý tưởng cổ truyền » của Marx , mà những chế độ cộng sản đã phá nhà thờ, đốt sách như ở Liên Xô ; thực hiện Cách mạng Hồng vệ binh, hủy diệt di tích cổ truyền, hành hạ trí thức như ở Trung cộng ; đàn áp những người Nhân văn giai phẩm, áp dụng triệt để khẩu hiệu : « Trí phú hào, đào tận gốc, trốc tận rễ !« như ở Việt Nam.&lt;br&gt;
Tất cả những nước cộng sản không thể phát triển về mọi mặt, đi ngược lại văn hóa, văn minh một phần lớn là vì quan niệm đoạn tuyệt với quá khứ của Marx, vì chủ trương « Trí phú hào, đào tận gốc, trốc tận rễ « này . &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;I I ) Marx phản lại văn hóa và văn minh&lt;/strong&gt; khi ông chủ trương bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp.&lt;br&gt;
Marx chủ trương rằng lịch sử là lịch sử của bạo động và của đấu tranh giai cấp. Marx viết : « Lịch sử của bất cứ xã hội nào cho tới ngày hôm nay là lịch sử của đấu tranh giai cấp » ( Tuyên ngôn thư đảng cộng sản – đã dẫn – trang 19). Khi Marx viết câu này, ông mới có 29 tuổi, ông sinh năm 1818, ông viết Tuyên Ngôn thư Đảng Cộng Sản năm 1847, xuất bản đầu tiên ở Anh năm 1848.&lt;br&gt;
Chúng ta có thể nói Marx viết vì nhiệt huyết của một người trí thức cách mạng, chứ không phải là một người trí thức có tuổi đã đọc tất cả lịch sử của những xã hội loài người, của một người trí thức có tuổi, có bề xâu về suy ngẫm, nếu chúng ta không muốn nói Marx là hồ đồ và vội vã. Nếu chúng ta suy ngẫm về đời sống của chính chúng ta, của từng cá nhân, rồi đời sống của xã hội, thì chúng ta thấy bản chất con người là muốn sống trong hòa bình, chứ đâu muốn sống trong bạo động, chiến tranh, ngay cả 2 quốc gia được coi là nguyên nhân chính của 2 cuộc thế chiến là Pháp và Đức, thì thời gian chiến tranh cũng không là bao so với thời gian 2 nước này sống trong hòa bình.&lt;br&gt;
Thêm vào đó Marx đã đơn giản hóa khi chia xã hội làm 2 giai cấp, và cho rằng yêu tố kinh tế quyết định hết. Ở đây tôi không thể đi vào chi tiết việc phê bình tư tưởng của Mrx. Xin mời quí vị xem những bài phê bình Marx của tôi trong những báo &lt;a href="http://www.conong.com,"&gt;http://www.conong.com,&lt;/a&gt; &lt;a href="http://www.danchu.net"&gt;http://www.danchu.net&lt;/a&gt; hay &lt;a href="http://anhdương.net"&gt;http://anhdương.net&lt;/a&gt; với bút hiệu là Chu chi Nam hay Trực Ngôn. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Một số điều kiện tối thiểu để con người hay một xã hội có thể làm nên những công trình văn hóa, văn minh, đó là : con người phải được sống trong hòa bình, tôn trọng sự thật, tin tưởng và thương yêu lẫn nhau. Nói như Francis Bacon, một nhà chính trị, một triết gia và khoa học gia vào cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17, người đã được nhiều nhà trí thức, tư tưởng gia coi như là một trong những người lập nên nền khoa học hiện đại, với phương pháp qui nạp ( l’induction) trong quyển Novum Organum vào năm 1620, thì : &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;« Những chế độ, lâu đài, thành quách có thể bị thời gian làm phai mờ. Nhưng những tiếng nói của sự thật, những công trình khoa học nghiên cứu về sự thật, những tiếng nói của con tim, những bài văn, bài thơ nói lên tình người, thì thời gian không bao giờ có thể làm phai mờ. Như bài thơ của Homère cách đây 3 000 năm vẫn vậy. Vì đó là nền tảng của văn hóa và văn minh vậy. » &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nay Marx và những người cộng sản chủ trương bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, xúi dục con đấu bố, vợ tố chồng, bạn bè tìm cách nghi kỵ, sát hại lẫn nhau, biến xã hội thành loạn, không có hòa bình, con người không còn tình thương, tương trợ và tín nhiệm lẫn nhau , thì làm sao mà có thể xây dựng văn hóa và văn minh ; nêu không muốn nói là chỉ dẫn đến sự hủy diệt văn hóa và văn minh. Đấu tranh giai cấp là một lời kêu gọi nội chiến triền miên, biến con người thành con thú dữ của chính nó với nhau. Vì thế, có người nói tư tưởng của Marx phản văn hóa, phản văn minh là vì vậy ! &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;I I I) Marx phản văn hóa và văn minh ở chỗ chủ trương độc tài vô sản, đưa những người ngu dốt và thấp hèn lên nắm chính quyền, kết quả là những gì thuộc về sự hiểu biết, trí thức, văn hóa và văn minh đều bị thiêu hủy&lt;/strong&gt;. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ông Lê xuân Tá, một trí thức, một cán bộ cao cấp cộng sản, có thời làm Phó Trưởng Ban khoa học và Kỹ thuật Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam, nay hiểu rõ bộ mặt thật của giới lãnh đạo, có viết : &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;« Sự ngu dốt và sự thấp hèn tự nó không đáng trách và không làm nên tội ác. Nhưng sự ngu dốt và sự thấp hèn mà được trao quyền lực, rồi được cấy vào vi trùng ghen tỵ, thì nó trở thành quỉ nhập tràng. Và con quỉ này, nó ý thức rất mau và rất rõ rằng cái đe dọa quyền và lợi của nó chính là sự hiểu biết, trí thức, văn hóa và văn minh. Nên nó đã đánh những thứ này một cách dã man, tàn bạo, không thương tiếc. Nhưng chính vì thấp hèn và ngu dốt, nên những thứ này đã trở thành sỏi mật, sạn thận, sơ gan, cổ chướng trong ngục phủ, ngũ tạng của chế độ cộng sản, làm chế độ này không ai đánh mà tự chết. » &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Thực vậy, chúng ta không cần tìm đâu xa, chúng ta chỉ cần nghiên cứu, suy ngẫm về giới lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam từ Hồ chí Minh cho tới ngay nay, thì chúng ta thấy lời của ông Lê xuân Tá là đúng.&lt;br&gt;
Hồ chí Minh, mặc dầu là con quan, nhưng cụ thân sinh của ông ta, vì lý do nghiện rượu, đã vô tình đánh chết một nông dân, theo như một số sử gia, theo tài liệu của đảng Cộng Sản, thì vì chống Pháp và cống triều đình, nên đã bị cách chức. Và từ đó Hồ chí Minh sống lang bạt kỳ hồ, phải bỏ học vào lúc thiếu thời. Từ hoàn cảnh xã hội thấp hèn, lại ngu dốt không được học tới nơi tới chốn, khi đi theo Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản vào năm 1920, ông không thể phân biệt nổi Đệ Nhị và Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản, như chính ông nói trong những quyển sách của ông. Tuy nhiên sự ngu dốt và thấp hèn của ông lại đụơc trao quyền lực, vì được Đệ Tam Quốc tế giúp đỡ để đảo chính cướp chánh quyền vào ngày 19/08/1945 ; thêm vào đó lại được cấy vi trùng ghen tỵ là lý thuyết của Marx chủ trương đấu tranh giai cấp ; nên Hô chí Minh đã trở thành quỉ nhập tràng. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Những người lãnh đạo cộng sản sau Hồ chí Minh cũng vậy, hoặc là con quan nhưng thất thời, thất thế, hay hoàn toàn xuất thân ngu dốt và thấp hèn như Đỗ Mười, một anh thiến heo, Lê đức Anh, một cai phu đồn điền, đều không học qua lớp 3 trường làng, nhưng được trao quyền từ Hồ chí Minh, và vẫn được cấy trong người vi trùng ghen tỵ là lý thuyết của Marx, theo Lời Mở Đầu của Hiến Pháp hiện hành Việt Nam 1992, thì :&lt;br&gt;
« Đảng Cộng sản Việt Nam….. theo chủ nghĩa Mác Lénin và tư tưởng Hồ chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. » Chính vì vậy họ vẫn tiếp tục là quỉ nhập tràng như Hồ chí Minh. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Những con quỉ này đã dùng đủ mọi thủ thuật, đủ mọi phương tiện, dù bán dân, hại nước, giết người, cướp của, thất đức, vô lương tâm, để đạt được tham vọng, ý đồ của nó ; nói như ông Phạm quế Dương, đại tá cộng sản, chủ nhiệm tạp chí Nghiên Cứu Lịch sử Quân Đội nhân dân : « Cộng sản vừa bất tài, vừa bất lực, vừa bất lương. » &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chính vì thế nên nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản đã lên tới cả trăm triệu người, và cũng chính vì thế mà có Nghị quyết 1481 của 46 nước Hội Đồng Âu Châu lên án chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa giết người, diệt chủng. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Một lý thuyết thì luôn luôn có phần đúng phần sai, nhất là nó còn tuỳ thuộc vào hòan cảnh xã hội và thời gian, lúc này nó có thể đúng ; nhưng 100 năm sau nó có thể sai. Tuy nhiên không ai chối cãi là những tàn hại của những chế độ cộng sản trong đó có phần trách nhiệm, ít ra là gián tiếp, của Marx. Nhưng nếu chúng ta nghiên cứu cuộc đời của Marx, sau nhiều thập niên chờ đợi cách mạng tất yếu xẩy ra ở Anh, rồi ở Đức, theo lý thuyết cách mạng tất yếu của minh, chờ đợi hoài công ; sau khi bị chính những người bạn cùng lứa tuổi và cùng đấu tranh với mình như Ferdinand Lassalle, người đã bỏ lý thuyết của Marx và lập ra đảng Dân Chủ Xã hội Đức, Marx bắt đầu nghi ngờ chính lý thuyết của mình về cuối đời, khi ông tuyên bố : « &lt;strong&gt;Tôi không còn là người đi theo chủ nghĩa mác xít&lt;/strong&gt; . » ( Je ne suis plus marxiste.) Lý thuyết Marx, ngay thời của ông đã bị chỉ trích nặng nề bởi những trí thức Tây phương, và đây cũng là một trong những lý do mà cách mạng tất yếu không xẩy ra ở những nước Tây phương. Trong khi đó thì Lê nin, sau đó là Mao trạch Đông và Hồ chí Minh cùng một số trí thức thân tả vẫn cho lý thuyết của Marx là thần dược ( Xin coi thêm bài của tác giả : Lý thuyết Mác là thần dược hay độc dược và bài Tại sao Cách mạng tất yếu không xẩy ra tại những nước tư bản ; mà cách mang tất yếu đã xẩy ra và còn xấy ra tại những nước cộng sản – trên những tờ báo được nêu ở trên ), và khi nắm được chính quyền, họ đã nhất nhất thi hành tất cả những lời dạy của Marx, dù là sai lầm ; họ đã làm những việc không có một tý gì là văn hóa, văn minh ; nếu không muốn nói là phản văn hóa, phản văn minh. Cũng từ đó, có người cho rằng tư tưởng của Marx là phản văn hóa, phản văn minh. Những người này không phải là họ không có lý. Có lẽ đây là nguyên nhân chính về những tàn hại của những chế độ cộng sản trong thế kỷ qua. Dân tộc Liên Xô và những nước Đông Âu đã can đảm đứng lên lật qua trang sử đau thương và đẫm máu cộng sản. Mong rằng dân tộc các nước cộng sản còn lại như Việt Nam, Trung Cộng, Bắc Hàn, Cuba hãy can đảm đứng lên để chấm dứt luôn những chế độ cộng sản phản văn hóa, phản văn minh, tham tàn, khát máu còn lại ./. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Paris ngày 05/03/2006 &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chu chi Nam&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/ta_431_ta_431_a_7902_ng_ca_7910_a_k_marx~1795342/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>vietnam</category><category>history</category><category>politics</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/ta_431_ta_431_a_7902_ng_ca_7910_a_k_marx~1795342/#comments</comments></item><item><title>Thử Nhìn Lại Bang Giao Mỹ Việt</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/tha_7917_nhin_la_7841_i_bang_giao_ma_792~1795317/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/tha_7917_nhin_la_7841_i_bang_giao_ma_792~1795317/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 03:03:08 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Thử Nhìn Lại Bang Giao Mỹ Việt&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;                   Phạm Bá Hoa&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Bài này do tham khảo bài viết của giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, đã trình bày tại trường đại học George Mason ngày 11 tháng 9 năm 2004, trong đại hội của “Nghị Hội Toàn Quốc Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn tại Hoa Kỳ”.&lt;br&gt;
            Thưa quí vị, giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng chia phần trình bày của ông trong nội dung này làm hai phần: Phần 1 là tiến trình bang giao Hoa Kỳ - Việt Nam, và phần 2 là những vấn đề đang diễn ra trong mối bang giao đó. Trong mỗi phần, tác giả chia ra từng giai đoạn hoặc từng vấn đề. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Khởi đầu là năm 1975 – 1976 mà tác giả gọi là giai đoạn “sai lầm và hờ hững”. &lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Trước hết là sai lầm của lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Họ đồng hóa phong trào chống chiến tranh của người dân Hoa Kỳ, như là sức mạnh đương nhiên cộng vào sức mạnh của họ ngay cả sau cuộc chiến 1954-1975 trên quê hương Việt Nam. Vì vậy mà lãnh đạo cộng sản Việt Nam, bám vào cái thư của cựu Tổng Thống Richard Nixon đề ngày 1 tháng 2 năm 1973 gởi cho cựu Thủ Tướng cộng sản Phạm Văn Đồng, theo đó thì Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào công cuộc tái thiết nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau khi hòa bình được vãn hồi trên toàn cõi Việt Nam, bởi hiệp định chấm dứt chiến tranh tái lập hòa bình ký tại Paris tháng 1 năm 1973. Rồi ra cái điều như là trên thế mạnh khi đặt điều kiện đòi Hoa Kỳ phải bồi thường chiến tranh mới nói đến chuyện bang giao giữa hai nước. Thư của cựu Tổng Thống Nixon có nói đến con số đóng góp ước tính lên đến 3 tỷ 250 triệu mỹ kim. Khối tiền quá sức lớn lao, làm cho lãnh đạo cộng sản Việt Nam sáng mắt, và cứ như “thừa thắng xông lên” mà vặn vẹo Hoa Kỳ.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Trong khi đó về phía Hoa Kỳ, Tổng Thống Ford và chánh phủ của ông đang cay cú vì chiến tranh Việt Nam, vì trong một chừng mực nào đó, đã gây ra sự phân hóa trong một số nhân vật chính trị cũng như một số thành phần trong xã hội Hoa Kỳ, nên chánh phủ Hoa Kỳ lên án lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã vi phạm hiệp định Paris là xua quân đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa, vì vậy mà nhà cầm quyền Việt Nam không có quyền đòi Hoa Kỳ thực hiện lời hứa viện trợ. Ngược lại, Hoa Kỳ đòi lãnh đạo cộng sản Việt Nam, phải cung cấp đầy đủ thông tin về số phận những quân nhân Hoa Kỳ bị mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Đồng thời, lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng phải chứng tỏ là không thực hiện tham vọng bành trướng thế lực tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Châu. Đó lần những gì mà Hoa Kỳ vừa trả lời cũng vừa đòi hỏi nhà cầm quyền Việt Nam cộng sản. Còn về phần mình, chánh phủ Hoa Kỳ cho lệnh phong tỏa các tích sản của Việt Nam Cộng Hòa cũ mà không trao cho nhà cầm quyền Việt Nam cộng sản. Cùng lúc, Hoa Kỳ cho áp dụng chính sách phong tỏa kinh tế đối với  toàn cõi nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Mặt khác, trong năm 1975-1976, Hoa Kỳ đã 3 lần phủ quyết đơn của lãnh đạo cộng sản Việt Nam xin gia nhập Liên Hiệp Quốc.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            &lt;strong&gt;1977 - 1978, giai đoạn mà cơ hội bị bỏ lỡ&lt;/strong&gt;. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Xin nhớ lại là năm 1977, tại Hoa Kỳ, ông Jimmy Carter đắc cử Tổng Thống. Chắc quí vị còn nhớ ông Jimmy Carter là người chống chiến tranh Việt Nam. Vì vậy mà khi lên cầm quyền, Tổng Thống Carter chủ trương “hàn gắn vết thương chiến tranh”. Ông cử ông Leonard Woodcock, một lãnh tụ nghiệp đoàn hướng dẫn một phái đoàn sang thăm Việt Nam cộng sản. Trong chuyến thăm viếng này, nhà cầm quyền Việt Nam trao cho phái đoàn 11 bộ hài cốt quân nhân Hoa Kỳ tử trận. Đổi lại, ông Leonard Woodcock, phải tuyên bố là không còn người Hoa Kỳ sống sót nào ở Việt Nam, đồng thời tuyên bố việc đòi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải cung cấp đầy đủ thông tin về quân nhân Hoa Kỳ mất tích ở Việt Nam là điều không hợp lý. Thêm nữa, chánh phủ Hoa Kỳ cũng tuyên bố sẽ không phủ quyết đơn của lãnh đạo cộng sản Việt Nam xin gia nhập Liên Hiệp Quốc nữa. Do vậy mà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam mới được gia nhập Liên Hiệp Quốc từ tháng 7 năm 1977. Cũng trong giai đoạn này, tuy Tổng Thống Jimmy Carter không chấp nhận bồi thường chiến tranh, nhưng Hoa Kỳ không loại bỏ khả năng viện trợ cho Việt Nam cộng sản. Hoa Kỳ có những lý do riêng để hành động như vậy, mà một trong những lý do lúc ấy là dọn đường cho bước đầu tiên của cuộc thương thảo với lãnh đạo cộng sản Việt Nam tại Paris vào tháng 5 năm 1977. Do chủ trương tìm cách bang giao với Việt Nam, những nhà chính trị Hoa Kỳ e ngại sự nhượng bộ quá đáng của Tổng Thống Carter, nên họ lên án chính sách của lãnh đạo cộng sản Việt Nam “đổi hài cốt Mỹ để lấy đô la”. Thế là Hạ Viện lẫn Thượng Viện Hoa Kỳ, biểu quyết cấm Hành Pháp viện trợ cho Việt Nam cộng sản.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Vào mùa Thu năm 1977, trong phiên họp cuối cùng giữa ông Richard Holbrooke của Hoa Kỳ, với ông Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng ngoại giao của Việt Nam cộng sản, phía Việt Nam vẫn bắt đầu bằng cách đòi Hoa Kỳ phải viện trợ như một điều kiện để bình thường hóa bang giao giữa hai nước cựu thù. Đến khi tình hình bang giao giữa Việt Nam cộng sản với Trung Hoa cộng sản căng thẳng, thì lãnh đạo cộng sản Việt Nam chấp nhận bang giao với Hoa Kỳ mà không nói đến điều kiện viện trợ như trước, nhưng điều đó đã quá trễ, vì Hoa Kỳ đã chấp nhận bang giao với Trung Hoa cộng sản rồi. Từ đó, Hoa Kỳ cắt đứt cuộc thương thảo về vấn đề bang giao với Việt Nam cộng sản.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            &lt;strong&gt;1978 – 1981, giai đoạn thù nghịch&lt;/strong&gt;. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Thưa quí vị, hẳn quí vị chưa quên là vào mùa Thu năm 1978, lãnh đạo cộng sản Việt Nam thực hiện chiến dịch “đánh tư sản mại bản” trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa cũ, gồm cả giới thương gia người Việt gốc Trung Hoa. Đồng thời lãnh đạo cộng sản Việt Nam tạo ra cuộc khủng hoảng “thuyền nhân” qua cái gọi là chính sách “đăng ký vượt biển” của những người Việt Nam gốc Trung Hoa.  &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Trong bài “Việt Nam Sau Tháng Tư Đen” của tác giả Lê Tùng Minh, do tiết lộ từ bộ phận lưu giữ hồ sơ mật của Bộ Công An, thì chánh phủ cộng sản cho phép các sở Công An địa phương, tổ chức những chuyến vượt biển cho thành phần người Việt gốc Trung Hoa để lấy vàng bổ sung cho ngân sách nhà nước. Các Sở Công An nhất là tại các thành phố trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa cũ,  áp dụng từ tháng 11 năm 1978. Chính sách này nhằm đẩy thành phần có nguồn gốc Trung Hoa ra khỏi Việt Nam, mà không mang tiếng là trục xuất một thành phần có thể là tai mắt của cộng sản Trung Hoa, vì lúc ấy tình hình bang giao giữa cộng sản Việt Nam với cộng sản Trung Hoa căng thẳng,  do cộng sản Việt Nam đứng hẳn về phía cộng sản Liên Xô. Theo tiết lộ của Đại Tá Trần Bình, Cục Trưởng Cục Công An, chỉ thị thu 3 lạng vàng trên mỗi đầu người nhưng thực tế các Sở Công An thu mỗi người ghi danh vượt biển đến 7 lạng vàng. Như vậy, trong năm 1978 đến 1972, họ thu được khoảng 700.000 lạng vàng, nhưng không ai biết được là số vàng đó có thật sự vào ngân sách nhà nước hay vào túi riêng của những người liên hệ và những người quyền thế.    &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Trước tình hình căng thẳng với Trung Hoa cộng sản, Việt Nam cộng sản tìm đồng minh bằng cách gia nhập “Tổ Chức Tương Trợ Kinh Tế” (Comecon) do Liên Xô lãnh đạo, đồng thời ký hiệp ước thân hữu dài hạn với Liên Xô vào tháng 11 năm 1978. Chỉ một tháng sau đó, lãnh đạo cộng sản Việt Nam  xua quân sang Cam Bốt đánh quân Khmer Đỏ, và dựng lên chánh phủ Heng Somrin - Hun Sen ảnh hưởng Việt Nam. Phản ứng của lãnh đạo cộng sản Trung Hoa là tháng 2 năm 1979, họ xua ơn 200 ngàn quân sang Việt Nam tấn công hầu hết các tỉnh sát biên giới, mà ông Đặng Tiểu Bình, lãnh đạo Trung Hoa cộng sản gọi là “dạy cho Việt Nam cộng sản một bài học”.                &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Trong khi quân Trung Hoa cộng sản tràn sang thì gần một nửa lực lượng quân sự của Việt Nam cộng sản đang chiến đấu trên đất nước Cam Bốt nhỏ bé, lúc ấy dư luận thế giới không quan tâm đến cuộc chiến dọc biên giới Việt Nam – Trung Hoa, mà họ quan tâm đến nền an ninh của khu vực Đông Nam Á do lãnh đạo cộng sản Việt Nam đưa quân chiếm đóng Cam Bốt. Cùng lúc, lãnh đạo Trung Hoa cộng sản lên án cộng sản Việt Nam là một thứ “Cuba ở Đông Nam Á”. Được hiểu Việt Nam như là cánh tay nối dài của Liên Xô để bành trướng trong khu vực này như Cuba  đã thực hiện ở một số quốc gia Phi Châu. Thế là các chánh phủ trong Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á nương theo Trung Hoa cộng sản, mà giúp phe kháng chiến Khmer Đỏ chống Việt Nam cộng sản. Còn Hoa Kỳ, trong một góc độ nào đó, cũng ủng hộ Trung Hoa cộng sản chống lại Việt Nam trong mục tiêu ngăn chận Liên Xô “xâm lăng” vùng này ngang qua cánh tay nối dài là Việt Nam cộng sản. Biểu hiện rõ nhất là Hoa Kỳ đã tuyên bố chính sách “ba không”, Đó là “không buôn bán, không viện trợ, và không bang giao với Việt Nam cộng sản”.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Thưa quí vị, như vậy rõ ràng là Hoa Kỳ với Việt Nam cộng sản, trong thế đối đầu nhau trong cuộc chiến tranh chiếm đóng Cam Bốt do lãnh đạo cộng sản Việt Nam tiến hành.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            &lt;strong&gt;1982-1986, giai đoạn thương thuyết&lt;/strong&gt;. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Năm 1981, Hoa Kỳ có Tổng Thống mới là ông Ronald Reagan. Dư luận đều công nhận Tổng Thống Reagan có chính sách cứng rắn với cộng sản, nhất là cộng sản Việt Nam. Trong lễ khánh thành đài kỷ niệm chiến tranh Việt Nam ở Washington DC, Tổng Thống Reagan tuyên bố “cuộc chiến tranh mà người Mỹ tham dự ở Việt Nam là cuộc chiến tranh có chính nghĩa, và cam kết sẽ đòi Việt Nam phải cung cấp tin tức về người Mỹ mất tích trong cuộc chiến đó”. Lời tuyên bố này được loan truyền trên thế giới trong lúc Việt Nam cộng sản đang lâm vào tình trạng hết sức khó khăn về kinh tế, dẫn đến đời sống của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng kiệt quệ. Cộng thêm những áp lực của Hoa Kỳ, của Trung Hoa cộng sản, của các quốc gia Đông Nam Á, và nói chung là áp lực của cả thế giới tự do đối với cuộc chiến tranh chiếm đóng Cam Bốt của Việt Nam, đã đẩy Việt Nam cộng sản vào thế cô lập về kinh tế lẫn chính trị. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Trong tình thế nguy ngập đó, lãnh đạo cộng sản Việt Nam đành phải giảm cường độ ương ngạnh mà nhượng bộ thế giới, với bước đầu là chiến dịch vận động một số quốc gia tham dự lễ kỷ niệm 10 năm chiếm được Việt Nam Cộng Hòa, mà họ gọi là “giải phóng”.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Tháng 2 năm 1982, Hoa Kỳ gởi một phái đoàn chánh thức sang thăm Việt Nam. Nhưng khác với thời Tổng Thống Jimmy Carter, đây là thời gian mà Hoa Kỳ ở thế thượng phong, nên Hoa Kỳ đặt điều kiện cho việc bình thường hóa thiết lập bang giao giữa hai nước. Điều kiện của Hoa Kỳ là:&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Thứ nhất, phải tách rời các vấn đề nhân đạo với các vấn đề chính trị. Vấn đạo nhân đạo phải được giải quyết riêng và thương thuyết trước. Vấn đề nhân đạo nói ở đây bao gồm: tù binh chiến tranh, người Mỹ mất tích tại Việt Nam, giải quyết con lai Mỹ, và giải quyết tù chính trị là những quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ mà cộng sản gọi là tù cải tạo. Còn vấn đề chính trị là vấn đề ngoại giao, vấn đề mậu dịch, cũng như vấn đề viện trợ. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Thứ nhì, vấn đề thương thuyết bình thường hóa ngoại giao chỉ bắt đầu sau khi Việt Nam cộng sản rút hết quân chiếm đóng Cam Bốt về nước, và thành thật cộng tác để đạt được giải pháp cho cuộc chiến tranh Cam Bốt. Nhịp độ nhanh hay chậm và phạm vi bình thường hóa ngoại giao , sẽ tùy thuộc vào những tiến bộ trong việc giải quyết những vấn đề nhân đạo.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Và thứ ba, trong khi chờ đợi, Hoa Kỳ vẫn duy trì chính sách “ba không” đối với Việt Nam cộng sản, cho đến khi mọi nỗ lực diễn tiến bình thường.  &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Thưa quí vị, hẳn quí vị không quên là trong bang giao quốc tế, không có vấn đề tình cảm mà chỉ có quyền lợi quốc gia là căn bản cho hành động. Vì vậy mà sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Hoa Kỳ với Nhật Bản từ hai nước thù địch đã trở thành hai quốc gia cộng tác hỗ tương những vấn đề thế giới cũng như những vấn đề giữa hai nước. Trong khi đó, Hoa Kỳoa K với Liên Xô là đồng minh trong thế chiến thứ hai, nhưng sau chiến tranh trở thành thù địch. Trong cuộc chiến tại Việt Nam, Hoa Kỳ với Việt Nam cộng sản cũng là quốc gia thù địch, nhưng trong một mức độ nhất định, lúc bấy giờ Hoa Kỳ với cộng sản Việt Nam đang tiến tới bang giao, cũng không phải là vấn đề. Mà vấn đề là ở những vị lãnh đạo quốc gia, nhất là những quốc gia nhỏ và yếu, phải có bản lãnh lãnh đạo để đưa đất nước vượt qua những chông gai từ quốc gia thù địch lẫn quốc gia bạn bè.     &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            &lt;strong&gt;Giai đoạn 1987-1992, giai đoạn chậm chạp trong thương thuyết ngoại giao&lt;/strong&gt;. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Để chứng tỏ quyết tâm của Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam, Tổng Thống Reagan cử Thống Tướng Vessey vào chức Đặc Sứ của Tổng Thống trong trách nhiệm tìm kiếm người Mỹ mất tích, và giải quyết vấn đề tù binh chiến tranh. Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, trong giai đoạn này có nhân nhượng thật sự giữa hai bên. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Về phía Việt Nam, sau khi ông Gorbachew thực hiện chính sách tái cấu trúc kinh tế (perestroika), cởi mở chính trị (glasnost), và hòa hoãn với Hoa Kỳ, thì lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng công bố chính sách cải cách kinh tế và đổi mới tư duy. Nguyên nhân dẫn đến chính sách này là kinh tế xã hội chủ nghĩa đưa xã hội Việt Nam đến sát bờ vực thẳm, buộc nhà cầm quyền Hà Nội phải mềm mỏng với Hoa Kỳ và đây là biểu hiện sự mềm mỏng đó: Năm 1986, Việt Nam đồng ý phối hợp với Hoa Kỳ trong nỗ lực tìm kiếm hài cốt người Mỹ mất tích trong chiến tranh. Năm 1987, Việt Nam bắt đầu mở cửa đón những nhà đầu tư ngoại quốc vào Việt Nam làm ăn. Năm 1988, Việt Nam bắt đầu triệt thoái quân đội ra khỏi Cam Bốt. Năm 1989, Việt Nam tuyên bố hoàn tất cuộc triệt thoái quân đội từ Cam Bốt về Việt Nam. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Song song với hành động gọi là mềm mỏng của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, Hoa Kỳ đáp ứng hành động đó bằng cách giảm bớt hạn chế du lịch Việt Nam, đồng thời cho phép những nhà kinh doanh Hoa Kỳ thăm viếng Việt Nam nhưng chưa được phép đầu tư. Năm 1990, có cuộc gặp gỡ giữa Ngoại Trưởng James Baker với NgoạiTrưởng Nguyễn Cơ Thạch tại New York. Và lệnh hạn chế đi lại của những viên chức Việt Nam được tạm ngưng hiệu lực để ông Nguyễn Cơ Thạch từ New York xuống Washington DC gặp các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ. Chánh Phủ cũng gởi một phái đoàn sang Việt Nam để nghiên cứu những vấn đề nhân đạo của Việt Nam, và khuyến khích các tổ chức Hoa Kỳ không thuộc chánh phủ trợ giúp nhân đạo cho Việt Nam. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;              Tháng 4 năm 1991, lần đầu tiên, một phái đoàn thương mại Hoa Kỳ viếng thăm Việt Nam. Cũng trong tháng đó, chánh phủ Hoa Kỳ có trao cho lãnh đạo cộng sản Việt Nam “bản đồ lộ trình” thường gọi là “lộ đồ” gồm bốn giai đoạn, trong đó ấn định rõ những điều mà nhà cầm quyền Việt Nam phải thực hiện để đổi lấy các tương nhượng đáp 1ưng của chánh phủ Hoa Kỳ, để từng bước tiến đến bình thường hóa hoàn toàn quan hệ ngoại giao. Đồng thời chánh phủ Hoa Kỳ cấp một ngân khoản viện trợ nhân đạo cho Việt Nam là 3 triệu mỹ kim. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Tháng 10 năm 1991, Ngoại Trưởng James Baker tuyên bố sẳn sàng tiến đến quan hệ bình thường với Việt Nam cộng sản. Hai tháng sau đó, chánh phủ Hoa Kỳ cho phép các công ty du lịch Hoa Kỳ được tổ chức những chuyến thăm viếng Việt Nam. Tháng 4 năm 1992, nhằm đáp ứng những nhu cầu căn bản của xã hội Việt Nam, các công ty thương mãi Hoa Kỳ được phép bán hàng cho Việt Nam, đồng thời chánh phủ bãi bỏ những hạn chế các dự án giúp Việt Nam của những tổ chức không thuộc chánh phủ hay tổ chức bất vụ lợi, và tái lập liên lạc viễn thông quốc tế.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            &lt;strong&gt;1993-1998, giai đoạn thiết lập ngoại giao&lt;/strong&gt;. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Năm 1993, Hoa Kỳ có vị Tổng Thống mới, là ông Bill Clinton. Chắc quí vị chưa quên là thời trai trẻ của ông Clinton, ông là một trong số sinh viên chống lại sự tham dự của quân đội Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam để ngăn chận khối cộng sản nói chung, và Trung Hoa cộng sản nói riêng, bành trướng xuống vùng Đông Nam Á.  Cũng vì vậy mà Tổng Thống Bill Clinton nối tiếp chủ trương của Tổng Thống Jimmy Carter trước đó, muốn tiến đến bình thường hóa quan hệ ngoại giao với cộng sản Việt Nam. Nhưng việc thực hiện chủ trương đó không phải là đơn giản, vì kinh nghiệm bất lợi mà Tổng Thống Carter đã gặp phải, cho nên Tổng Thống Clinton tỏ ra thận trọng. Khởi đầu, Tổng Thống Clinton tuyên bố ủng hộ bản đồ lộ trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao của Tổng Thống Bush, đã trao cho lãnh đạo cộng sản Việt Nam hồi tháng 4 năm 1991. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Tháng 4 năm 1993, công ty tư vấn Vatico là công ty Hoa Kỳ đầu tiên được phép mở văn phòng tại Hà Nội. Một tháng sau đó tức tháng 5 năm 1993, nhân Ngày Chiến Sĩ Trận Vong (Memorial Day), Nghị Sĩ John Kerry hướng dẫn một phái đoàn Nghị Sĩ của hai đảng Cộng Hòa lẫn Dân Chủ sang thăm Việt Nam. Khi trở về Hoa Kỳ, một số Nghị Sĩ trong phái đoàn, đã lên tiếng khuyến cáo chánh phủ nên xúc tiến việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với cộng sản Việt Nam. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Ngày 2 tháng 7 năm 1993, Tổng Thống Bill Clinton tuyến bố, Hoa Kỳ sẽ không phủ quyết việc các định chế tài chánh thế giới viện trợ cho Việt Nam, và Tổng Thống nhấn mạnh rằng: “Những bước tiến kế tiếp trong việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, sẽ hoàn toàn tùy thuộc vào sự cộng tác của lãnh đạo cộng sản Việt Nam trong vấn đề tìm kiếm người Mỹ mất tích. Vấn đề này đã có một số kết quả, nhưng chưa đủ để Hoa Kỳ thay đổi chính sách cấm vận Việt Nam, cũng như đi thêm bước nữa trong vấn đề bang giao với Việt Nam”.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Tháng 9 năm 1993, Tổng Thống Clinton vẫn gia hạn chính sách cấm vận, nhưng cũng nới lỏng một số chi tiết cho phép các công ty Hoa Kỳ tham dự đấu thầu các dự án đầu tư tại Việt Nam, nhưng chưa được phép thực hiện những dự án đó.  &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Sau nhiều lần trì hoãn, cuối cùng thì Nghị Sĩ John Jerry cũng hoàn tất bản phúc trình. Rồi một nhóm Nghị Sĩ của cả hai đảng tại Thượng Viện, viết thư  đề nghị Tổng Thống Clinton bãi bỏ  lệnh cấm vận Việt Nam. Ngày 24 tháng 1 năm 1994, Thượng Viện Hoa Kỳ chấp thuận một tu chính án trong đạo luật chuẩn chi ngân sách của Bộ Ngoại Giao, mà nội dung đòi hỏi chánh phủ chấm dứt lệnh cấm vận Việt Nam. Và ngày 3 tháng 2 năm 1994, Tổng Thống Bill Clinton ra lệnh bãi bỏ cấm vận Việt Nam với lập luận cho đó là cách tốt nhất để giải quyết việc tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Bước kế tiếp là Hoa Kỳ với Việt Nam, bàn về vấn đề tài sản của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa đang bị Hoa Kỳ phong tỏa sau khi bị cộng sản đánh chiếm. Tháng 1 năm 1995, hai bên đạt đến thỏa thuận vấn đề tài sản và trao đổi văn phòng liên lạc. Tháng 5 năm 1995, cộng sản Việt Nam chuyển cho Hoa Kỳ một số tài liệu liên quan đến người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam, và số tài liệu này được Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đánh giá là có nhiều tin tức quan trọng hơn bất cứ tài liệu nào mà cộng sản Việt Nam trao cho Hoa Kỳ trước đó. Tháng 6 năm 1995, hai bên ký biên bản trao đổi văn phòng liên lạc. Tháng 7 năm 1995, Tổng Thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với cộng sản Việt Nam, vì Tổng Thống Clinton cho rằng, đã đến lúc cần phải tiến tới “hàn gắn vết thương chiến tranh”. Rồi Ngoại Trưởng Warren Christopher, sang Việt Nam khánh thành tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Tháng 7 năm 1996, Hoa Kỳ trao cho cộng sản Việt Nam một văn kiện liệt kê các điều kiện để bình thường hóa về thương mại. Hai tháng sau đó, cuộc thương thuyết đầu tiên về trao đổi mua bán giữa hai nước được tổ chức tại Hà Nội. Ngày 7 tháng 4 năm 1997, Lãnh đạo cộng sản Việt Nam bằng lòng trả những khoản nợ của của Việt Nam Cộng Hòa là 145 triệu mỹ kim. Mười ngày sau đó, hai bên ký hiệp ước bảo vệ quyền của tác giả. Tháng 5 năm 1997, Hoa Kỳ với Việt Nam trao đổi Đại Sứ. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Đến đây xem như hoàn tất giai đoạn bình thường hóa bang giao, và chuyển sang giai đoạn củng cố mối quan hệ đó.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Xin nhắc lại là tháng 3 năm 1998, Tổng Thống Bill Clinton quyết định miễn áp dụng tu chính án Jackson-Vanik, tức là cho phép Cơ  Quan Đầu Tư Tư Nhân Ngoại Quốc và Ngân Hàng Xuất Nhập Cảng của Mỹ được liên hệ với Việt Nam. Bảy tháng sau đó, tức tháng 10 cùng năm 1998, Phó Thủ Tướng cộng sản Việt Nam, Nguyễn Mạnh Cầm sang thăm Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Ông Cầm là viên chức cao cấp đầu tiên của chánh phủ Việt Nam đến Hoa Kỳ trong một cuộc viếng thăm chánh thức, kể từ sau tháng 4 năm 1975. Theo giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng thì từ đó, những hành động giữa hai nước được xem là dồn dập. Tính đến đầu năm 1999, lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã trao cho chánh phủ Hoa Kỳ 506 bộ hài cốt của người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Tháng 7 năm 1999, Việt Nam ký một nghị định thư, cam kết mở rộng thị trường Việt Nam cho hàng ngoại quốc, để đổi lấy việc Hoa Kỳ mở rộng cửa cho hàng hóa Việt Nam xuất cảng sang Hoa Kỳ.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Tháng 3 năm 2000, sau nhiều lần trì hoãn, cuối cùng thì lãnh đạo cộng sản Việt Nam đón tiếp Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, ông William Cohen. Ba tháng sau đó, chánh phủ Hoa Kỳ cam kết viện trợ nhân đạo cho cộng sản Việt nam một ngân khoản 1 tỷ 700 triệu mỹ kim, trong mục tiêu giúp Việt Nam tìm kiếm và phá hủy những bom đạn và chất nổ còn lại trên đất Việt Nam từ thời chiến tranh. Tháng 7 năm 2000, Việt Nam với Hoa Kỳ ký hiệp định thương mại song phương. Đến đây hẳn quí vị chưa quên là  ông Phan Văn Khải, Thủ Tướng cộng sản Việt Nam sang Tân Tây Lan (New Zealand) để ký hiệp định thương mại với Tổng Thống Hoa Kỳ, nhưng theo ông Nguyễn Thanh Giang thì lãnh đạo Trung Hoa cộng sản đã xúi Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đột ngột ra lệnh cho Phan Văn Khải hoãn lại, để chờ Trung Hoa cộng sản ký trước với Hoa Kỳ một văn kiện tương tự, sau đó Việt Nam mới ký. Rõ ràng là lãnh đạo cộng sản Việt Nam lúc nào cũng “nằm trong ống tay áo” của của lãnh đạo Trung Hoa cộng sản.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Sau đó, Tổng Thống Bill Clinton đến thăm Việt Nam vào tháng 11 năm 2000. Đây là sự kiện đánh dấu bước quan trọng trong bang giao giữa hai nước, kể từ sau sự kiện tháng 4 năm 1975. Tháp tùng Tổng Thống Clinton là một phái đoàn hùng hậu, kể cả một số người Mỹ gốc Việt có mặt trong phái đoàn. Nửa năm sau đó, ông Colin Powell, Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ, một quân nhân đã từng tham chiến tại Việt Nam, cũng đến thăm Việt Nam. Tháng 11 và tháng 12 năm 2001, Quốc Hội Hoa Kỳ và Quốc Hội cộng sản Việt Nam phê chuẩn hiệp định thương mại song phương, và 2 tháng sau đó, Phó Thủ Tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng sang thăm Hoa Kỳ. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Thưa quí vị, đến đây thì quí vị vừa nhìn lại những bước đi của Hoa Kỳ với cộng sản Việt Nam, trong thời gian 20 năm kể từ sau tháng 4 năm 1975, và hai nước cựu thù đã thật sự trao đổi ngoại giao ở cấp Đại Sứ vào năm 1995. Đó là bước quan trọng thứ nhất. Bước quan trọng thứ hai là hiệp định thương mại song phương mà Quốc Hội hai nước phê chuẩn vào tháng 11 và tháng 12 năm 2001. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Tiếp đây là bước quan trọng thứ ba, Hoa Kỳ với cộng sản Việt Nam đang tiến đến mối quan hệ về quân sự, mà khởi đầu là Đô Đốc Dennis Blair, Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, chánh thức thăm Việt Nam hồi tháng 2 năm 2002, tiếp xúc thảo luận với những người lãnh đạo quân đội của cộng sản Việt Nam. Để đáp lại, Tướng Phạm Văn Trà, Bộ Trưởng Quốc Phòng cộng sản Việt Nam sang thăm Hoa Kỳ hồi tháng 11 năm 2003. Cho đến thời gian này, thì Tướng Trà là viên chức cao cấp nhất về phía quân sự của Việt Nam đến thăm Hoa Kỳ, kể từ sau tháng 4 năm 1975. Trong cùng thời gian, thì chiến hạm Vandergrift thuộc Hạm Đội 7 Hoa Kỳ, cặp bến Sài Gòn. Đây là sự kiện đánh dấu sự có mặt của một số quân nhân Hoa Kỳ trên lãnh thổ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sau 30 năm rút quân khỏi nơi đây kể từ năm 1973. Tháng 12 năm 2003, Vũ Khoan, Phó Thủ Tướng Việt Nam hướng dẫn một phái đoàn đông đảo sang Hoa Kỳ, đến một số thành phố mà ông Vũ Khoan nói là cổ võ đầu tư và trao đổi thương mại với Hoa Kỳ. Đến tháng 2 năm 2004, Đô Đốc Thomas Fargo, tân Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đến thăm Việt Nam. Năm tháng sau đó, chiến hạm USS Curtis Wilbur của Hoa Kỳ cặp hải cảng Đà Nẳng ngày 28 tháng 7 năm 2004. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Vậy là bang giao giữa cộng sản Việt Nam với Hoa Kỳ đã bước khá nhanh trên chặng đường từ chống đối trở thành cộng tác, nhưng không phải vì vậy mà mọi vấn đề trong bang giao không có những trở ngại bất trắc. Điều này giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng gọi là Những Vấn Đề Trong Bang Giao Việt Mỹ. Vậy, đó là những vấn đề gì? Xin mời quí vị theo dõi tiếp.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;            Vấn đề kinh tế thương mại. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Phạm Bá Hoa&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;---&lt;br&gt;
link:&lt;br&gt;
&lt;a href="http://saigonxua.blog.ca/"&gt;http://saigonxua.blog.ca/&lt;/a&gt;
&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/tha_7917_nhin_la_7841_i_bang_giao_ma_792~1795317/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>vietnam</category><category>politics</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/tha_7917_nhin_la_7841_i_bang_giao_ma_792~1795317/#comments</comments></item><item><title>Ý NGHĨA MỘT CUỘC CHIẾN TRANH</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/y_ngha_296_a_ma_7896_t_cua_7896_c_chia_7~1795311/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/y_ngha_296_a_ma_7896_t_cua_7896_c_chia_7~1795311/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 02:55:45 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ý NGHĨA MỘT CUỘC CHIẾN TRANH&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;BS Lê Văn Sắc&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Đa số đàn bà và những người đàn ông cầu an chán ghét chiến tranh nhưng chiến tranh là một định mệnh mà loài người phải chịu. Nếu nói trong gia đình có chiến tranh thì nhiều người sẽ phản đối, cho là nói bậy, nhưng thực tế, giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái luôn có những bất đồng và nếu không biết nhịn thì chiến tranh bùng nổ, có khi bằng ngôn từ, có khi bằng những vũ khí tàn bạo không khác gì ngoài đời. Vợ có thể thuê người giết chồng như tại San Jose đã từng xẩy ra, hoặc như Scott Peterson giết vợ và con trong bào thai. Rồi con nít có chiến tranh của con nít, người lớn có chiến tranh của người lớn. Việc em học sinh Bobby Tăng bị một nhóm học sinh Việt Nam khác dùng tiểu liên AK bắn một loạt đạn vào xe tại khu Dove Hill Park hai tuần trước đây, khiến em bị chết là một thí dụ của chiến tranh giữa con nít với nhau (Bobby Tăng 17 tuổi bị bắn đêm thứ bẩy 23-10-2004, lúc 3 giờ sáng, 3 tên bị bắt cũng đều dưới 17 tuổi, trừ tên Trần Huy 18 tuổi). &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Việt Nam từ xưa, khi còn là một thành viên của nhóm Bách Việt, vốn quần cư trên vùng đồng bằng sông Dương Tử, nghĩa là địa bàn của nửa nước Tầu hiện nay (miền Nam). Người Bách Việt sống tại vùng đồng bằng phì nhiêu, sống bằng nghề cầy cấy, canh nông, cầu an, không quen chiến đấu, không thích chiến tranh, trong khi giống Hán (gốc Mông Cổ, tức dân da vàng, nên dân da vàng có tên gọi theo chủng tộc học là Mongoloid) sống tại miền Bắc nước Tầu với những sa mạc mênh mông, khí hậu khắc nghiệt: nóng cháy da bỏng thịt vào mùa hè, lạnh lẽo, tê cóng vào mùa đông, chỉ trông vào các đồng cỏ và thú vật nên sống đời du mục, săn bắn, chiến chinh và đã tràn xuống đánh chiếm những vùng đất phì nhiêu của giòng giống Bách Việt ngay từ thời Chiến Quốc, đời nhà Tần (Tần Thuỷ Hoàng) và được các nhà Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh... trường kỳ tiếp nối. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Bị chận lại ở Việt Nam, và bờ biển phía đông (không xâm lăng Nhật Bản được vì vướng biển), vó ngựa chiến chinh của quân Mông Cổ đã quay sang phía tây, sang tận Âu Châu. Lịch sử không ghi lại bất cứ một cuộc chiến tranh nào do dân Bách Việt khởi động trước, tấn công miền Bắc (giống Hán) mà chỉ ghi lại những trận chiến do miền Bắc chủ động mưu tính xâm lăng các đồng bằng phì nhiêu của miền Nam của Bách Việt. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Dân da đen (có tên gọi theo chủng tộc là Negroid) ở Phi Châu và Ấn Độ cũng là các dân tộc không quen chiến đấu cho đến giờ này cũng chưa biết cuộc sống cá nhân, riêng biệt, chưa biết chiếm đàn bà con gái làm của riêng, chưa biết tích trữ tài sản, tất cả coi là của chung, ăn bữa nay không lo bữa mai, không tích trữ lương thực (vì lương thực là thú rừng săn bắn được) cho đến khi bị dân da trắng (gốc Bạch Nga, thuộc vùng Caucasus của Nga (do đó dân da trắng có tên gọi theo chủng tộc học là Caucasoid) kéo sang xâm lấn, chiếm Ấn Độ, đánh đuổi dân da đen xuống miền Nam và ra biển, lai giống thành các dân Thái Lan, Indonesia, Mã Lai, Miên, Lào, Úc và vào Việt Nam. Giống dân này có da mầu đen, lai đen (dân Chà-Và). &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Qua nhiều cuộc xâm lăng và di cư (chạy trốn chiến tranh), các chủng tộc lai giống với nhau thành nhiều chủng loại khác nhau. Tại Trung Đông, các chủng tộc da trắng và da đen, da vàng hòa trộn với nhau thành các dân có mầu da khác nhau, tuỳ mức độ lai giống, hòa trộn giòng máu: Hoặc trắng nguyên như dân Do Thái chính gốc, hoặc lai trắng vàng, hoặc lai trắng đen, hoặc lai đen vàng, và nguyên da trắng cũng có lai giống giữa loại da trắng tóc vàng hoe và da trắng tóc trắng bạch kim, còn các chủng tộc da vàng và da đen lai giống thành dân nửa vàng nửa đen (Việt Nam ít đen hơn dân Thái Lan, Miên, Lào, Úc, Indonesia, Phi Luật Tân, Mã Lai, Tân Tây Lan. Chính vì do mức độ lai giống này mà nhiều người không biết rõ, nên thắc mắc không hiểu sao giữa giống dân da vàng Việt Nam lại lọt vô một ông hay một cô da đen ngòm, đen rõ chứ không phải đen nhờ nhờ, nâu nhiều hơn đen và trong giữa đám dân Ả Rập da nâu lại lọt vô một giống Do Thái da trắng phau phau ngay từ thời Chúa Giêsu giáng sinh ). Lịch sử kinh thánh Công Giáo, nói riêng, và Kitô giáo, nói chung, người ta cũng không biết giống dân Do Thái từ đâu tới, chỉ biết dân Do Thái từ vùng Assyria, vùng sông Tigres (Iran, Iraq ngày nay), du mục dần lên thượng nguồn sông Euphrates rồi vòng xuống phía Nam, chung sống cùng các dân Ả Rập [sát với Ai Cập Egypt ở miền Nam và Syria (Damascus) ở phía tây, tại các vùng đất ở phía trên Biển Chết (Death Sea hay Salt Sea (biển muối, mặn quá nên không sinh vật nào sống trong nước biển được nên gọi là Biển Chết), bên bờ phía đông sông Jordan, lúc phồn thịnh nhất lậïp ra quốc gia Do Thái (từ vùng Galilee xuống đến vùng Samaria, Judea, Idumea (mà Jerusalem và Bethlehem nằm ngay trên đường mà Thánh Giuse đưa Đức Mẹ Maria từ Ai Cập (Egypt) về lại miền Bắc (Galilee) để ghi danh kiểm tra dân số theo lệnh vua Herode và sanh chúa Giêsu tại một hang đá Bethlehem. Và ai cũng thấy rõ, giống dân Do Thái là dân giống dân thông minh, giỏi buôn bán, trình độ học vấn cao, lại bị lọt vô giữa đám dân Ả Rập, nên cuối cùng bị giống dân Ả Rập bao vây, bắt nạt, đến độ phải làm nô lệ cho giống dân Ả Rập, và cuối cùng, bị đánh đuổi tan tác, phải lưu lạc khắp bốn phương, tưởng không bao giờ lập quốc trở lại được, nếu không nhờ Anh, với thủ tướng Winston Churchill (hay ai nữa?) nhìn xa trông rộng, muốn lợi dụng dân Do Thái làm lính tiền đồn chống lại thế lực và tham vọng bành trướng rất lớn của khối Hồi Giáo Ả Rập với kho vũ khí “dầu hỏa” vô tận và lòng cuồng tín của đạo Hồi, mà dùng tầu Exodus ùn ùn chở dân Do Thái về lập quốc tại vùng Palestine hiện nay (từ năm 1948). &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nhiều người thường lên án Do Thái chiếm đất của Palestine và lên án Hoa Kỳ luôn “bao che” cho Do Thái lấn lướt dân Palestine. Như vậy là không hiểu rõ lịch sử vùng Trung Đông. Đất hiện nay Do Thái được đưa về lập quốc là đất thuộc quốc gia Do Thái cũ, và suốt từ khi dân Do Thái bị đánh bại, đất nước Do Thái cũ bị tàn phá “không tảng đá nào trên tảng đá nào” và dân tộc Do Thái phải sống lưu vong “lưu đầy” trên khắp thế giới thì vùng đất Palestine cũng không có một chính quyền nào được thành lập, nghĩa là vùng đất đó là vùng đất vô chủ, cho đến năm 1948 Quốc Gia Do Thái chính thức được thành lập, và rất lâu sau đó, dân Palestine mới tỉnh ngộ, thấy Do Thái là mối hiểm họa cho mình thì đã trễ. Do Thái đã binh hùng tướng mạnh, đánh bay khối Ả Rập (Ai Cập, Jordan) trong trận chiến thần tốc năm 1967 chiếm rất nhiều đất của khối Ả Rập. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Dĩ nhiên giống Ả Rập đâu chịu khoanh tay ngồi im, nhất là khi các nước khác, kể cả Nga và Trung Cộng, cũng chẳng “dại gì” bênh vực, giúp cho khối Ả Rập mạnh để khối Ả Rập lợi dụng vũ khí dầu hỏa và lực lượng dân số Hồi Giáo (cả tỷ người quá khích) chế ngự thế giới sau này. Đánh bằng vũ khí, lực lượng không được thì đánh lén, đánh du kích, đánh bằng khủng bố (nhất là sau khi thấy vũ khí “du kích” và “khủng bố” được phía cộng sản áp dụng có vẻ thành công trong trận chiến chống Mỹ, bèn học theo, nhưng đó lại là con dao hai lưỡi, vì đã làm cho thế giới giật mình, càng liên kết mạnh hơn để chống lại. Điển hình, là Nga và Trung Cộng là hai quốc gia mà thế giới Ả Rập kỳ vọng sẽ tích cực giúp khối Ả Rập hay ít ra cũng lên tiếng ủng hộ, chống Mỹ, ra tay nghĩa hiệp cứu khối Ả Rập thì hai quốc gia này im rơ, mặc dù có lên tiếng, không đồng ý với Mỹ Anh khi hai nước này liên minh vận động các nước khác và Liên Hiệp Quốc tấn công Iraq (đầu sỏ lãnh đạo khối Ả Rập). Sau này, Trung Cộng và Nga còn “sáng mắt” hơn nữa khi thấy các quốc gia Hồi Giáo Cheknya, Afghanistan, Tân Cương, ngay trong nội địa hay sát nách Nga và Trung Cộng đang “nổi dậy” chống Nga và Trung Cộng theo phương thức “khủng bố” và càng nhìn rõ hơn mối nguy hiểm, nếu khối Ả Rập xử dụng vũ khí dầu hỏa bắt chẹt thế giới sau này. Việc giá dầu hỏa tăng khủng khiếp trong mấy tháng vừa qua là một minh chứng cho thấy thế giới cần cảnh giác hơn nữa về vấn đề dầu hỏa và càng nhận rõ “chính nghĩa” và chính nghĩa của cuộc chiến chống Iraq của Tổng Thống Bush. Cũng có người nghĩ rằng biết đâu việc tăng giá dầu hỏa là một đòn của TT Bush hay của nhóm tư bản ủng hộ TT Bush, để cho thấy là việc đánh Iraq và việc cần chế ngự Iraq (hay Iran và các nước dầu hỏa khác) là điều cần thiết và chính đáng. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Việc Tổng Thống Nga Putin và nhiều lãnh tụ khác của thế giới bắn tiếng “khuyên dân Mỹ nên bầu cho Bush và nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạo của TT Bush trong cuộc chiến tranh chống khủng bố là một lời khẳng định vai trò quan trọng của Tổng Thống Bush, chẳng khác gì công nhận rằng chủ trương đường lối của Bush là đúng và của Kerry là sai. Dĩ nhiên, nước Nga có lên tiếng ủng hộ nước Mỹ thì cũng là vì quyền lợi của nước Nga, nhưng ở đây, quyền lợi nước Nga và nước Mỹ tương đồng, quan hệ mật thiết với nhau vì cùng là đối tượng của Hồi Giáo và các quốc gia dầu hỏa trong khối Ả Rập. Việt Cộng trước đây lên tiếng bênh vực Iraq và “bỏ nhỏ cố vấn” cho Iraq về chíến thuật du kích, khủng bố, bây giờ cũng thấy rõ sự nguy hiểm khi giá dầu hỏa tăng lên và thấm thía khi chính Việt Nam, chứ chưa phải là “Đế Quốc Mỹ” lao đao vì giá dầu hỏa lên cao, và càng hiểu rõ thân phận nhược tiểu của mình bên cạnh anh khổng lồ Trung Cộng khi Trung Cộng “ngang nhiên chiếm kho dầu hỏa Hoàng Sa, Trường Sa và cả vịnh Bắc Việt của Việt Nam bất chấp lẽ phải. Chắc chắn bọn VIêt Gian CSVN bây giờ hiểu rõ ý nghĩa của chủ nghĩa cộng sản, chẳng qua chỉ là các nước lớn muốn lợi dụng chủ nghĩa cộng sản mưu cầu thanh toán các nước nhỏ, thống trị thế giới mà thôi và Nga là nước nhìn thấy hiểm họa do đồng chí Trung Cộng, chứ không phải là Hoa Kỳ. Việt Gian Cộng Sa?n VN hiện đang xuống nước năn nỉ Mỹ giúp nhưng Mỹ cũng đâu phải là “con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô”. Mỹ mặc cho Trung Cộng lấn áp, cưốp dầu hỏa của Việt Nam vì bất cứ nước nào làm chủ các mỏ dầu hỏa này thì Mỹ cũng vẫn là nước “được mời khai thác và hưởng lợi”. Bây giờ Việt Cộng chắc hiểu hơn ai hết, vì sao Mỹ “đi đêm” với Nga và Trung Cộng trong các năm 1974-1975, rồi rút ra khỏi Việt Nam năm 1975. Vì hiểu rõ mối nguy hiểm Trung Cộng “môi hở” năm 1958 với thư của Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai là “răng lạnh ngay” năm 1974 với việc Trung Cộng chiếm đảo Hoàng Sa, nên Lê Duẩn đã phải cầu cứu với Nga, sang Nga ký hiệp ước Tương Trợ Quân Sự với Nga năm 1976 và Nga cũng thấy rõ hiểm họa Trung Cộng nên mới ký hiệp ước này. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;John Kerry chỉ là anh gà tồ “to đầu mà óc rỗng, tính lợi dụng chiêu bài chống chiến tranh để đánh bại TT Mỹ, nhưng người dân Mỹ và cả các người đàn bà, không phải đều là những người “nhát sợ chiến tranh”, những người lính Mỹ không phải là những trẻ con “ăn chưa no, lo chưa tới” mà là những thanh niên biết can đảm hy sinh vì tổ quốc, ý thức được trách nhiệm mình, chỉ có một thiểu số ngây thơ mới tin theo John Kerry mà thôi. Dĩ nhiên, John Kerry đã thất cử nhưng người viết cũng phải đề cập đến việc John Kerry lại một lần nữa đảo lời khi tuyên bố: “Ai (Kerry hay Bush) đắc cử làm TT Mỹ thì nước Mỹ vẫn mạnh” trái với lúc tranh cử, cứ tấn công, chê TT Bush là sai lầm, làm Mỹ yếu đi, chắc chắn thất bại, làm mất mặt Mỹ. Lời TT Nga Putin và các vị lãnh đạo thế giới đề cao TT Bush và khuyên dân Mỹ nên bầu cho TT Bush thật là có ý nghĩa với John Kerry vậy. Khuyên dân Mỹ bầu cho TT Bush tức là “chê” John Kerry rồi vậy. Không phải cứ lên tiếng “ủng hộ” “người ta” thì người ta sẽ ủng hộ mình, khen mình. Việc các bà và giới trẻ Mỹ vẫn bầu cho TT Bush cho thấy người Mỹ cũng biết ý nghĩa của 3 chữ “Cư An Tư Nguy”, hay rõ ràng hơn, muốn sống hòa bình phải sửa soạn chiến tranh, vì dân nào chỉ lo đến hòa bình thì nước đó sẽ bị mất vì kẻ thù luôn luôn rình mò tìm cơ hội mình yếu là xâm chiếm ngay. Đó là định luật sinh tồn của con người. Đó là ý nghĩa của cuộc chiến tranh chống khủng bố của TT Bush. Không có con đường khác. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Là người Việt Nam tỵ nạn tại Mỹ, chúng ta biết rõ là giữa Mỹ, Nga và Trung Cộng thì Mỹ và Nga tin được hơn là Trung Cộng. Và còn nước Pháp thì không đáng kể vì nước Pháp quá nhỏ, lực l;ượng chẳng có gì đáng kể vào thời đại bây giờ. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Còn với khối Ả Rập Hồi Giáo, đây là lúc khối Hồi Giáo Ả Rập nên nghĩ lại, tìm một thái độ và biện pháp khác hơn thay vì đem cả tương lai của khối Ả Rập Hồi Giáo bênh vực cho một vùng Palestine nhỏ bé hay muốn đem Hồi Giáo áp đặt, chế ngự các tôn giáo khác. Do Thái chắc chắn không mong gì hơn là được sống an bình trong lòng một khối Ả Rập chứ không mong và không thể lấn áp hay tìm cách tiêu diệt toàn khối Ả Rập được vì Do Thái quá nhỏ. Vả lại, như một định luật sinh tồn và tương thân, tương cận, nhiều người Do Thái lấy vợ lấy chồng Palestine, Ả Rập và ngược lại nhiều người Palestine, Ả Rập đã lấy vợ lấy chồng người Do Thái. Việc mưu biến Hồi Giáo thành một tôn giáo siêu việt chế ngự các tôn giáo khác lại là một chuyện điên rồ khác. Việc bắn phá tượng Phật tại Afghanistan và việc phá các chùa và giết tăng sĩ Phật Giáo tại Thái Lan chỉ tạo thêm cho Hồi Giáo nhiều kẻ thù hơn mà thôi. Việc Hồi Giáo tấn công Công Giáo khiến đoàn quân Thập Giá từ Âu Châu kéo qua đánh bại quân Hồi Giáo vào thời kỳ Trung Cổ là bài học mà người Hồi Giáo nên nghĩ tới. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;BS Lê Văn Sắc &lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/y_ngha_296_a_ma_7896_t_cua_7896_c_chia_7~1795311/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>war</category><category>politics</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/y_ngha_296_a_ma_7896_t_cua_7896_c_chia_7~1795311/#comments</comments></item><item><title>CHỐNG CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN KHÔNG PHẢI VÌ MẤT CHỖ ĐỨNG, MÀ VÌ CHỦ NGHĨA ĐÃ PHẢN TIẾN BỘ</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/cha_7888_ng_cha_7910_ngha_296_a_ca_7896_~1795304/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/cha_7888_ng_cha_7910_ngha_296_a_ca_7896_~1795304/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 02:52:07 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;CHỐNG CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN KHÔNG PHẢI VÌ MẤT CHỖ ĐỨNG, MÀ VÌ CHỦ NGHĨA ĐÃ PHẢN TIẾN BỘ&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ý THỨC CHỐNG CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN (CNCS)&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Hồng Long.HDB&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chủ nghĩa cộng sản xuất hiện trước lương tri lồi người như là một thách đố của một chủ thuyết cực kỳ tả khuynh nhằm xóa &lt;strong&gt;bỏ mọi giá trị văn hóa truyền thống&lt;/strong&gt; bị gán cho là những cản trở của tiến trình xây dựng xã hội cộng sản. Lương tri lòai người đã thể hiện ở ý thức chống CNCS ngay từ khi lý thuyết CS còn trong trứng nước và càng ngày càng tăng tiến. Chính ý thức đó đã đánh gục ý thức hệ CS ở Liên Xơ trước đây một thập niên. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;CSVN đã và đang tìm cách triệt tiêu ý thức chống CNCS hoặc lèo lái ý thức chống CNCS đó trở thành có lợi cho CS bằng cách tô đậm những hình ảnh lòng căm thù cộng sản sục sôi như những vạc dầu khiến cho các đảng viên buộc phải cấu kết với nhau để bảo vệ đảng cho sự sống còn của họ. Để hóa giải độc chiêu đó, các phương thức chống cộng nên phải tiến hành khôn ngoan trong hướng &lt;em&gt;làm thức tỉnh những lương tâm tố như tính chân thực, đức công bằng, và tinh thần bác ái trong lương tri nơi con người CS và làm cho họ hiểu rõ rằng nếu họ thành tâm hợp tác thì cuộc sống của họ sẽ được bảo đảm an tòan, và như vậy tầm tác dụng chống CNCS sẽ cao hơn là làm cho họ lo sợ cho mạng sống của họ và thân nhân bị trả thù.&lt;/em&gt; Cần phải làm cho người CS thấy rằng ý thức chống CNCS ngày một gia tăng và những mưu mô đó và hiện có của tập đòan CSVN nhằm triệt tiêu ý thức đó cũng sẽ chỉ là công dã tràng xe cát như đã xẩy ra ở Liên Xô và Trung Quốc. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Những sự kiện đáng chú ý: &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ngày 17-7-1918&lt;/strong&gt;, mười một người trong gia đình hồng gia Nga đã bị hành quyết dã man tại thành phố Yekaterinburg. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ngày 16-7-1998, hàng ngàn dân chúng Nga tràn ra đường đứng im lặng chờ đón các quan tài của Nga Hồng Nicholas, Nga Hậu, hồng tử, và cơng chúa trở về cố hương với 21 phát đại bác nổ vang như nói lên nỗi uất ức nghẹn ngào của cả một dân tộc bị hơn 80 năm đàn áp đưới chế độ CS. Hôm đó, Tổng Thống Nga, &lt;strong&gt;Yelsin &lt;/strong&gt;tuyên bố: " &lt;strong&gt;Sự thức bị bưng bít 80 năm qua, ngày mai sẽ được tiết lộ.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;" Trong khi đó thì CSVN vẫn hàng năm ca ngợi cuộc Cách Mạng Nga, 24-10-1917, với khẩu hiệu: &lt;strong&gt;"Liên Xô là thành trì của CM vô sản, là chỗ dựa vững chắc cho các phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới."&lt;/strong&gt; &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Cuộc CM vơ sản Nga này vào giai đoạn đầu đã giết tới 10 triệu người gồm phú, trung nông, tư sản, trí thức, và quan chức Nga Hồng. Đến thời Stalin, con số người bị tàn sát lên tới 14 triệu. Từ 1925, Stalin ra lệnh tập thế hóa nông nghiệp: 25 triệu nông trại tư bị cấm hoạt động; nông và gia súc đều bị tập trung trong các nông trường tập thể. &lt;strong&gt;Các cơ sở tư doanh bị dẹp bỏ; hệ thống gia đình bị phá vỡ; con cái được huấn luyện phải tố cha mẹ; người dân phải rình rập lẫn nhau và báo cáo; công an mật vụ được cài vào mọi cơ sở để nghe ngóng&lt;/strong&gt;. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Năm 1934, đại hội đảng lần thứ 14 gồm 1966 đại biểu thì 1108 người bị tống giam. Trung ương đảng năm 1934 gồm 139 ủy viên thì 98 ủy viên bị bắn bỏ với hơn một triệu đảng viên bị khai trừ. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Năm 1956, Thủ Tướng Nikata Khrushchev lên án: "Stalin là kẻ thù của nhân dân." Năm 1961 xác của Stalin bị đưa ra khỏi Cơng Trường Đỏ đồng thời tên Stalin trên các đường phố, nhà máy và công viên bị xóa bỏ. Thành phố Stalingrad đổi thành Volvograd. Khi Stalin chết, Tố Hữu làm bài thơ khĩc Stalin như ơng nội chết: "Thương cha, thương mẹ, thương chồng một; thương ơng mười." &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Năm 1949, đảng CS Trung Quốc chiếm trọn Hoa Lục. Mao Trạch Đông cũng thực hiện những chính sách độc tài như Stalin: xóa bỏ tư hữu; thiết lập nhân dân nông xã với kế hoạch Bước Nhẩy Vọt. Để đàn áp các chống đối từ mọi phía, Mao đã không ngần ngại thủ tiêu những đồng chí từng cùng vào sinh ra tử và các nhà trí thức đầy tâm huyết. Hàng chục triệu sinh mạng vơ tội đã phải hy sinh cho một thiên đường cộng sản đầy bóng ma của Mao. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Năm 1945 CSVN nổi lên cướp chính quyền. Hồ Chí Minh đã thi hành đúng những gì đã được Liên Xơ và Trung Quốc huấn luyện. CSVN đã tiêu diệt hết các đãng phái và lãnh đạo các tơn giáo. Trong cuộc cải cách ruộng đất, cả gần nửa triệu người dân đủ từng lớp đã bị đấu tố chết. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ý THỨC CHỐNG CNCS TRƯỚC CUỘC CÁCH MẠNG NGA, THÁNG 10, 1917&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ý thức chống chủ nghĩa cộng sản đã hình thành ngay từ khi lý thuyết cộng sản manh nha trong bản Luận Cương (Manifesto) của Karl Marx (1818 - 1883) được phổ biến chiều hơm trước khi những cuộc nổi dậy tại Pháp, Ý, Đế Quốc Ao, và Đức bùng ra mà sử ghi là Các Cuộc Cách Mạng 1848. Bản luận cương đó tóm lược triết thuyết xã hội của Marx, và tại London, Marx thành lập và lãnh đạo Hội Thợ Thuyền Quốc Tế (Đệ Nhất Quốc Tế) năm 1864. Ngay từ thuở sơ khai đĩ, nhiều thức giả đã chống chủ nghĩa CS vì cho rằng đó là một lý thuyết mang tính không tưởng (Utopia) và phi nhân bản nghĩa là chỉ có trong tưởng tượng và sử dụng những biện pháp trái nhân đạo, khi các lý thuyết gia CS mơ tới một xã hội khơng giai cấp, không bóc lột, không nhà nước lãnh đạo, làm theo khả năng; hưởng theo nhu cầu, và chủ trương cứu cánh biện minh phương tiện. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Trong thực tế, vấn đề phân chia giai cấp là khơng thể không có vì tổ chức xã hội lồi người là đa dạng và lồi người bản chất cũng đa dạng - nhiều giai cấp - mới có thể hòan thành được những chức năng cơ bản của con người là; sống, làm việc, và tiến bộ. Vấn đề của lồi người không phải là xóa bỏ giai cấp - một mối trật tự bắt buộc phải có trong các cấu trúc hữu cơ - vấn đề là phải biết dùng đạo đức và luật lệ để không có những cách biệt quá mức giữa các giai cấp. Về vấn đề bỏ bóc lột, người cộng sản chủ trương hủy bỏ tư hữu thay bằng công hữu. Thực tế khi không còn tư hữu, người vô sản không còn khả năng gì để tự che chở mà hòan tòan lệ thuộc vào kẻ nắm tư hữu là các cán bộ CS.&lt;br&gt;
Giải quyết vấn đề bóc lột như thế là không có biện chứng (logic).&lt;br&gt;
&lt;strong&gt;Việc xóa bóc lột cũng phải dựa trên hai cơ sở là đạo đức xã hội và cơ chế luật pháp: nâng cao trình độ văn hóa, bảo đảm quyền tư hữu; bảo vệ các phúc lợi, và ngăn chặn độc quyền&lt;/strong&gt;. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Vấn đề không nhà nước lãnh đạo cũng là  không tưởng vì con người vốn luôn luôn cần có lãnh đạo để vươn lên, vì những người lãnh đạo thường là những người có trí tuệ; mà trí tuệ là hiểu biết, là ánh sáng. Con người tiếp cận trí tuệ để khôn ngoan cũng như cây cỏ vướn lên tới ánh sáng để phát triển. Không ai có thể hình dung được một xã hội mà con người không đòi hỏi có những trí tuệ hơn mình để noi theo. Hợp lý nhất là xã hội luôn luôn cần có những lãnh đạo trí tuệ được mọi người tự do lựa chọn và cũng dành quyền bãi bỏ. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Đề xuất "làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu" dựa vào tiến trình máy móc hóa công nghiệp cũng là một thứ bánh vẽ mà chỉ những người ngây thơ hoặc có chứng "không tưởng" tin theo. Thực tế trong tổ chức của đảng CS thì đại đa số các lãnh đạo "làm thì vô khả năng nhưng hưởng thì vượt nhu cầu."&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Chủ trương " cứu cánh biện minh phương tiện " đã nói lên tính tàn ác của những tín đồ CS: họ không từ bất cứ một biện pháp giết người nào cho dù là dã man nhất cốt đạt được mục tiêu&lt;/strong&gt;. Nhiều tên đồ tể CS tỏ ra không còn một chút tính người trong những hành động tàn sát các nhân vật quốc gia một cách vô cùng man rợ. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chủ nghĩa CS và chế độ CS mang tính nghịch lý và phi nhân đạo như thế, tại sao đã có nhiều người tin theo ? Tại vì, vào thời kỳ đó, nhân loại đa số vốn còn lạc hậu, nghèo khổ, nên rất nhiều người mơ tới một xã hội cơng bằng và no ấm. Ngay giới trí thức đầy lòng vị tha và sống sung túc hồi đó cũng mơ tới một triết lý giải quyết thỏa đáng trọn vẹn các vấn đề nhân sinh với một xã hội công bằng và bác ái cho cuộc sống có ý nghĩa hơn. Đảng CS đã đánh trúng tâm lý đĩ bằng một mớ lý thuyết còn viết dang dở của Marx. CS đã tung ra những khẩu hiệu hết sức lý tưởng nêu trên và quả đã thu hút, mê hoặc được hàng triệu khối óc và trái tim con người hằng tha thiết với mơ ước giải phóng thân phận những con người cùng khổ. Những người cả tin theo chủ thuyết CS đã tận tình tạo nên những hào quang sáng chói của những lãnh tụ CS, thèm khát dự phần trong ánh hào quang đó, và đã bất kể đến những ý kiến trái với giấc mơ quá đẹp của họ! &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Hẳn nhiên cũng đã có nhiều nhân vật kịch liệt bài bác chủ thuyết CS vì tính không tưởng và độc tôn của nó khi thuyết này mới đem ra thực hiện. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ý THỨC CHỐNG CSCN SAU KHI CÁC CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA (XHCN) HÌNH THÀNH&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Như phần trên đầu có trình bày: &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;ý thức chống CNCS là một hàm số tiến, nghĩa là cùng với sự gia tăng cường độ biến đổi của các biến số đạo đức xã hội, tri thức khoa học, và chính trị kinh tế, CNCS sẽ phải đi vào giai đoạn tàn lụi khi cường độ gia tăng của các biến số đó đủ lớn như ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào cuối thập niên 1980. Ở Liên Xô, ngay khi nhà nước XHCN hình thành, nhiều lãnh tụ CS đã chống đối chính sách xây dựng XHCN của Stalin đề ra. Điển hình là Leon Trosky (1879-1940), sau CM Tháng 10 Nga, là Ủy Viên Ngoại Vụ; đến thời Stalin thì bị trục xuất (1929); lập ra "Đệ Tứ Quốc Tế" và chống Stalin qua cuốn Cuộc Cách Mạng Bị Phản Bội (The Revolution Betrayed, 1937); và cuối cùng bị ám sát tại Mexico City. Đồng thời là hàng trăm ngàn người đã bị tước đoạt quyền sống và đầy lên Tây Bá Lợi Á lao động khổ sai trong các hầm mỏ. Một số nhỏ may mắn thốt được ra ngoại quốc đã kể lại trong hồi ký những thảm cảnh địa ngục trần gian trong các trại tập trung ở Liên Xô. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chính sách của CS càng tàn nhẫn bao nhiêu thì ý thức chống Cộng càng bùng lên mạnh mẽ bấy nhiêu. Ý thức xoay chuyển và chống lại CNCS cổ điển đã hình thành ngay trong nội bộ CS khi Nikita Khrushchev (1894-1971) lên cầm quyền lãnh đạo đảng. Năm 1956, ông tuyên bố từ bỏ chính sách Stalin (Stalinism), bỏ tôn sùng cá nhân, và chủ trương tiến gần với Tây Phương như là một dấu hiệu phá sản của ý thức hệ CS. Cho tới đầu thập niên 90 thì ý thức hệ CS đã hồn tồn bị xĩa bỏ và đảng CS đã giải thể. Tính ra đảng CS Liên Xô đã sống được khoảng 73 năm. Chính những người CS đã ý thức được sự sai lầm của các thế hệ trước và đã can đảm nắm tay nhau tìm cách từ bỏ CSCN một cách khá ngoạn mục. Ở Trung Quốc, chẳng bao lâu sau khi nhà nước XHCN hình thành, hầu hết các trí thức đã vỡ mộng trong đĩ cĩ bác sĩ Lý Chí Tuy (1919- ) đã từ bỏ cuộc sống vững vàng ở Úc và trở về TQ với một lịng yêu nước quá thiết tha đến nỗi chẳng cần cân nhắc tới tính những mâu thuẫn nội tại của chủ thuyết. Ong cũng như hàng triệu người dân thường đã góp phần tạo hào quang cho họ Mao - một con người đầy khát vọng, mưu chước và dã tâm, trong những nỗ lực đưa TQ lên vị trí lãnh đạo thế giới nhưng đều thất bại. Tất cả các cuộc thanh trừng đẫm máu nhằm củng cố quyền lực của ông như phong trào Cách Mạng Văn Hĩa (5/66) do ông vạch ra, giật dây, đưa người ta vào trịng, và cho những nhân vật thân tín như Giang Thanh (vợ) và Lâm Bưu mặc sức thi hành, cịn ơng thì lánh mặt; riêng Lâm Bưu vốn được coi là cánh tay mặt và kế vị Mao sau đó bị Mao giăng bẫy ghép vào tội phản bội, phải trốn đi (13/9/71), và tử thương trong một chuyến máy bay không đủ nhiên liệu! &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Các cuộc chống đối trong và ngồi nội bộ vẫn càng ngày càng gia tăng. Các nhà kế hoạch chống Mao có thể kể như Bá Y Bát (Chủ Nhiệm Ủ Ban Kinh Tế Nhà Nước), Lý Phục Xuân (Ủy Ban Kế Hoạch Nhà Nước) đã đưa ra những chỉ trích nhắm vào họ Mao trong kế hoạch Những Bước Nhẩy Vọt. Nhưng chỉ riêng có Bành Đức Hồi (Quân Ủy Trung Ương/Bộ Trưởng Quốc Phịng) viết hẳn một lá thư thật dài (14/7/59) lời lẽ ơn hịa, sâu sắc, rất dung hòa được sự ủng hộ của Hồng Khắc Thành (chủ nhiệm Ban Thường Vụ), Chu Tiểu Châu (đệ nhất bí thư tỉnh Hồ Nam), và Trương Văn Tiến (thứ trưởng ngoại giao, vạch ra những sai, đúng trong quá trình thực hiện Bước Nhẩy Vọt và đã làm Mao mất ăn, mất ngủ. Tại Hội Nghị Lư Sơn, Bành và những người ủng hộ ơng đều bị gán tội danh là tư sản chống đảng (8/59). Các phĩ thủ tướng như Đàm Chấn Lâm và Lý Phụng Châu, cùng với các thống tướng Trần Ngọc, Diệp Kiếm Anh, Từ Chương Khiên, và Nhiếp Dung Trân đều lên tiếng đả kích Cuộc Cách Mạng Văn Hóa do Mao đạo diễn. Thậm chí, phĩ thủ tướng Đàm Chấn Lâm đã viết tâm thư nói rằng ơng ân hận đã tham gia cách mạng, tham gia vào Hồng Quân, và càng đã khơng nên tham gia vào lực lượng của Mao tổ chức tại Thanh Cương Sơn hồi những năm 1930. Kết quả là hàng chục ngàn đảng viên bị hàng triệu vệ binh đỏ khắp tồn quốc đấu tố chết hay bị khai trừ trong đó có Lưu Thiếu Kỳ, Điền Gia Anh (tự vẫn), Đặng Tiểu Bình, và Đào Chu. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Các cuộc chống đối ngày một gia tăng cùng với những sự thất bại trong Các Bước Nhẩy Vọt (1958) tiến hành thành lập các Nhà Nước Nơng Xã và Các Nhà Đúc Thép Sau Hè đã làm cho họ Mao thức tỉnh nên vào đầu thập niên 1970, Mao mở cửa đón Tây Phương và Henry Kissinger đã bí mật viếng thăm TQ vào năm 1971 và Tổng Thống Nixon năm 1972. Tuy nhiên Mao vẫn tiếp tục ca ngợi chính sách độc đóan của Stalin và tạo ra những phẫn nộ ghê gớm của quần chúng đối với những sai trái của các đảng viên khiến cho các đảng viên dù cĩ tư tưởng chống Mao cũng phải bảo vệ Mao và Đảng để tồn tại. Dựa vào sự tôn sùng của quần chúng, Mao tìm cách loại tất cả các nhân vật trí thức chống đối và những đảng viên ngang vai vế như Lưu Thiếu Kỳ, nhân vật số hai của TQ, Đặng Tiểu Bình và Lâm Bưu chỉ vì họ cĩ cái nhìn khác với cái nhìn của Mao, và đặc biệt là họ phủ nhân sự tôn sùng cá nhân khi họ Đặng tuyên bố rằng hiến pháp mới sẽ không có câu "lấy tư tưởng Mao Chủ Tịch là kim chỉ nam cho ý thức hệ."&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Đối với trí thức, Mao khơng bao giờ đặt tin tưởng vào lòng trung thành của ho. Vì cả tin vào lời kêu gọi phê bình sửa sai của Đảng qua phong trào "Trăm Hoa Đua Nở, Trăm Ý Đấu Tranh", nhà văn Hồ Phương năm 1955 đã bị tống giam. Qua phong trào này, người ta thấy niềm khát khao của mọi giới về một nền dân chủ thực sự đã bùng nổ lớn: những lỗi lầm của đảng bị chỉ trích mỗi lúc một gay gắt và đã tiến tới cực điểm là xốy vào vai trị lãnh đạo của đảng và tồn bộ tư cách pháp lý của đảng bị đưa ra phân tích. Ý quần chúng cho rằng đảng CS khơng có thể độc quyền lãnh đạo quốc gia và quyền hành phải được chia xẻ cho các giới khác. Cuộc thanh trừng đã diễn ra trong Cuộc Cách Mạng Văn Hóa đã giết trên dưới 30 triệu người chỉ với mục tiêu là Mao tồn tại với quyền lãnh đạo và thực hiện những bước tiến nhẩy vọt đưa TQ lên vị trí hàng đầu thế giới và mở ra cuộc cách mạng vô sản tồn cầu. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ở Việt Nam, ngay sau khi nắm được chính quyền năm 1945, đảng CS đã mở chiến dịch thủ tiêu các nhân vật chính trị, tơn giáo, đảng phái như Tạ Thu Thâu, Lãnh Tụ Đệ Tứ Quốc Tế; Đức Huỳnh Phú Sổ, Giáo Chủ Hịa Hảo; chỉ trừ một số nhân vật cần giữ lại để làm bình phong như Hồng Đế Bảo Đại, Cụ Nguyễn Hải Thần, Ơng Ngô Đình Diệm, Nhất Linh, v.v., nhưng sau khi chính quyền đã vững rồi thì CS làm lơ cho những nhân vật đĩ tự trốn đi. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Cuối năm 1946, trước và sau khi nổ súng để tiến hành cuộc chiến chống Pháp, CSVN đã thẳng tay tiêu diệt tất cả các đảng phái quốc gia. Đảng viên Quốc Dân Đảng bị tàn sát ở Vĩnh Yên; Đại Việt bị vây ở Lạng Sơn và các lãnh tụ Đại Việt như Trương Tử Anh bị tra tấn và thủ tiêu; Đại Việt Duy Dân của Lý Đông A chiến đấu ở đồi Nga My, Ninh Bình và hơn 400 đảng viên bị hy sinh. Có tin tung ra là Lý Đông A đã chết trong trận ở Nga My. Có tin ông vẫn còn sống và có tập thơ được truyền ra hải ngoại, mang tên là Hoa Địa Ngục nguyên là của Lý Đông A chứ khơng phải là của Nguyễn Chí Thiện. Giáo Sư Thạc Sĩ Y Khoa Trần Ngọc Ninh đã viết tại Hoa Kỳ, 6/1992, trong Khảo Phê Văn Học dài 30 trang bằng một giọng văn trí thức có mổ xẻ tỉ mỹ và dẫn chứng đầy đủ để chứng minh rằng người đã liều chết đem tập thơ vốn chưa cĩ tựa đề vào tịa đại sứ Anh ở Hà Nội khơng phải là Nguyễn Chí Thiện. Và, G.S. kết luận: "Nhưng tập thơ chủ yếu là một tuyên ngôn và là một mật lệnh. Tuyên ngôn trước kẻ thù. Mật lệnh cho các đồng chí." (tr. 11). &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nhiều người khác phân tích đã đưa ra nhiều điểm để chứng tỏ rằng Nguyễn Chí Thiện khơng phải là tác giả Hoa Địa ngục: (1) không cĩ một tù cải tạo nào viết lách chống đối mà không bị đánh chết hoặc tử hình; (2) lứa tuổi sinh năm 1939 thì trình độ Pháp Ngữ không đủ để viết lá thư ghi trong thi tập; (3) lập trường chống CS của NCT khi sang tới HK không phù hợp với tinh thần tập thơ; (4) tập thơ xuất bản sau này của NCT khác với bút pháp trong tập thơ Hoa Địa Ngục. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Có người còn cho biết đã tìm ra tên của Lý Đông A mật ghi ngay trong tập thơ Hoa Địa Ngục, trong bài thơ dài nhất (gần 500 câu), quan trọng nhất, và cũng là bài mở đầu có tên là "Đồng Lầy" bằng cách phân tích từ Đồng Lầy và thấy từ này gồm các mẫu tự của ba chữ Lý Đơng A ghép lại: đem chữ Lầy ra trước; lấy đi chữ A thì còn là Ly; đem A trở lại sau thì thấy là Ly Đong A! &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Sau 1954, khi đã chiếm được nửa nước, CSVN củng cố lại hàng ngũ các cấp để loại trừ các phần tử có tinh thần chống đối. Rập khuơn như Trung Quốc đã làm, CSVN đưa ra phong trào Trăm Hoa Đua Nở, cho phép các cán bộ tự do phê bình đảng. Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường đã mạnh dạn lên tiếng chỉ trích đảng. Ơng đã bị khai trừ và bỏ đói rất thảm thương. Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm qui tụ những nhà văn có tài, lãnh đạo bởi Nhà Văn Phan Khôi, đã viết những bài đả kích đảng và đã bị nhà nước CS vùi dập, bỏ tù. Tuy vậy ý thức chống chủ nghĩa CS vẫn tiếp tục và trong dân chúng hàng trăm câu vè, câu chuyện tiếu lâm đã nhanh chóng lan truyền khơng làm sao dập tắt được.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Sau 75, CSVN đã hồn tồn làm chủ cả Nam lẫn Bắc, những người dân cả hai miền Nam và Bắc và thế giới trước đây cịn nghi hoặc và ủng hộ CSVN đã hồn tồn thất vọng trước những chính sách của nhà nước CS đưa ra đã chỉ dẫn đến sự kiệt quệ các tài nguyên, tạo tham nhũng, và nghèo đói. Nhiều đảng viên kỳ cựu như Nguyễn Hộ, Trần Độ, Dương Thu Hương, v.v. đã lên tiếng chỉ trích Đảng; các cuộc nổi dậy của nơng dân Thái Bình, của cơng giáo, Phật Giáo, và các nhà đấu tranh cho nhân quyền, cho dân chủ đều đã bị đàn áp thẳng tay; trùm mafia Năm Cam từng được bao che đã tạm phải bị truy tố như để tránh bị quốc tế ghép vào trục quỉ khủng bố. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tóm lại, tòan thể các tầng lớp nhân dân đều ôm trong lòng mối óan hận chế độ. Đảng đã sử dụng mọi biện pháp để dập tắt mọi âm mưu lật đổ chính quyền và sử dụng những món tiền khổng lồ vào các hoạt động văn hóa vận nhằm tiêu diệt ý thức chống Cộng và họ hy vọng đảng CS sẽ tồn tại mãi một khi ý thức chống Cộng đã mai một đi trong tâm trí mọi người. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;CHIẾN DỊCH TIÊU TRỪ Ý THỨC CHỐNG CỘNG CỦA CS VIỆT NAM&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Để tẩy não con người, CSVN đã tung ra hàng loạt những chiến dịch qui mô, sâu rộng trong và ngồi nước cố gắng tái tạo những ấn tượng tốt về con người CS và tiếp tục bôi nhọ hình ảnh đẹp của những người QG chống cộng.  Về chính trị, CSVN bỏ những luận điệu chống Mỹ và thĩa mạ Việt kiều. Mặt khác họ tìm sự che chở của Trung Quốc bằng cách nhượng bộ quyền khai thác lãnh hải và di chuyển mốc biên giới mà Hồ Chí Minh đã ký cam kết để được viện trợ tiến hành Cuộc Chiến Đơng Dương, để vĩnh viễn buộc các đảng viên phải đi vào quĩ đạo của TQ. Họ dàn dựng ra các mặt trận, đòan thể này nọ nhằm &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;(1) thu hút các phần tử chống chế độ để cho ăn bánh vẽ và khống chế; (2) moi hầu bao của những người qua các cuộc quyên góp;&lt;br&gt;
(3) đánh bĩng tên tuổi cho một số cò mồi đủ loại để sử dụng khi tình thế bắt buộc phải có sự thay đổi. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Về văn hóa và tư tưởng, họ vẫn duy trì những tài liệu giáo khoa ca ngợi những thành tích kháng chiến chống Pháp như là của riêng họ và ngược lại lên án những người quốc gia là bán nước khi liên kết với Pháp và Hoa Kỳ. Họ kiểm duyệt những sách báo và tin liệu trao đổi qua mạng lưới thơng tin điện tử, nhưng ngược lại đã cho triển lãm, phát hành sách báo, phim ảnh, băng hình tuyên truyền rằng xã hội chủ nghĩa là ưu việt và chỉ có người cộng sản mới là những người yêu nước chân chính. Đặc biệt là ở quốc ngoại, CSVN cho các cán bộ chỉ đạo khống chế các hoạt động chống Cộng bằng cách gài người, mua chuộc những phần tử quốc gia, tìm cách len lỏi vào tất các các hội đòan để lũng đoạn quyền hành. Sau đây là một số mục tiêu chính nằm trong chiến dịch tiêu trừ ý thức chống Cộng mà CSVN đã và đang thực hiện:&lt;br&gt;
Bỏ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ: CS cho rỉ tai tuyên truyền rằng chế độ Việt Nam Cộng hòa không còn tồn tại và lá cờ đó không còn được Liên Hiệp Quốc công nhận. Một số trường học ở Hoa Kỳ đã bị cộng đồng Việt phản đối và đã dẹp cờ Việt Cộng xuống thay bằng cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Các em học sinh cũng đã được cha mẹ, anh, chị, chỉ dẫn rõ ràng rằng lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đã từng là linh hồn của tổ quốc Việt Nam khơng Cộng Sản và gia đình các em lánh nạn cộng sản đều có trách nhiệm bảo vệ lá cờ đó. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Hòa Hợp Hòa Giải: &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Một số ý kiến bầy tỏ lập trường hòa giải với CSVN nhưng đã bị đa số các tổ chức và đồng bào không tán thành, giản dị là nếu CS muốn hòa hợp sao còn bắt giam những người bất đồng chính kiến? Sao không tạ lỗi vì đã đối xư Ư tàn nhẫn với quân cán chính VNCH? Sao không bỏ Điều 4 Hiến Pháp xác định tính cách độc đảng? Trong lịch sử đấu tranh chống CS, nhiều nhà đấu tranh đã bị lừa dối rồi. Không thể để CS lừa dối mãi.&lt;br&gt;
Trên thực tế CS và QG như lửa với nước: khơng thể hòa hợp được. Chừng nào còn CS cầm quyền thì chừng đó còn có chống đối. Tuy nhiên cũng cần phải có mưu lược khôn ngoan trong các hình thức chống đối mới đạt được kết quả mong muốn, chẳng hạn, phải làm sao thu hút được cảm tình của quần chúng của các quốc gia trên thế giới; làm sao cho những người hiện trong hàng ngũ CS hiểu rằng họ sẽ khơng bị trả thù khi trở về với chính nghĩa quốc gia; và vô hiệu hóa những mánh lới của CS nhằm chia rẽ người quốc gia bằng cách tránh những trò phê phán nhau một cách tiêu cực. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Văn Hóa Vận: &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;CS cho in các sách báo, băng hình, phim truyện và cho các nghệ sĩ xuất ngoại nhằm mua chuộc giới trẻ, tạo cho giới trẻ một cái nhìn đối với VN khác với cái nhìn của thế hệ cha, chú. Vào những ngày kỷ niệm của CS, họ cho cị mồi tổ chức ăn uống, ca nhạc để đánh lạc hướng quần chúng. Vào những dịp hội hè, họ mua chuộc để những khuơn mặt thiên cộng xuất hiện. Họ lập hội này nọ để lèo lái các hoạt động văn học và nghệ thuật.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tuy nhiên, người Việt Nam chúng ta đã có quá nhiều kinh nghiệm đối với những trò như &lt;strong&gt;chụp mũ, bơi nhọ, nói xấu, móc, thọc, và mua chuộc do các phần tử tay sai của CS tung ra &lt;/strong&gt;trong những năm qua, nên họ đã có những nhận định vững vàng, khơng còn chao đảo nữa. Đặc biệt thế hệ trẻ VN ở ngoại quốc đa số không ngây thơ như CS tưởng. Dù còn ít tuổi nhưng họ đã có những suy tư khác vững chắc qua những ý niệm tự do, dân chủ, bình đẳng, và cơng bằng xã hội mà nhà trường và thực tiễn đã cung cấp cho họ. Họ có thể đi coi, đi nghe để có thêm tin liệu sống và đã khơng mảy may tỏ ra cĩ một chút tin tưởng nào đối với những lời tuyên truyền của CS Việt Nam. Đối với họ từ CS đồng nghĩa với xạo hay cuội đã trở thành phổ biến.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Mặc dầu đã cĩ rất nhiều mưu mơ thâm độc rút ra từ những kinh nghiệm của CS Trung - Xơ và dư thừa tiền bạc để lũng đoạn, CSVN trước sau vẫn thất bại trong toan tính triệt tiêu ý thức chống CNCS. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tại sao? - Bởi vì ý thức chống Cộng là một hàm số mũ đồng biến và bản chất của ý thức đó là các yếu tố đạo đức xã hội; kiến thức khoa học; và chính trị kinh tế là những biến số tăng. Ba yếu tố này khơng tương hợp được với bất cứ một mệnh đề nào như "đỉnh cao trí tuệ", hay "ưu việt", như CNCS đã tự gán cho họ những mệnh đề đó. Sau đây là hai quá trình chính diễn ra của hàm số đó.&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ý THỨC CHỐNG CỘNG của THẾ HỆ CŨ&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Thế hệ cũ tỏ thái độ chống CNCS vì họ là những người trực tiếp chịu sự khủng bố và kìm kẹp của chính quyền CS và họ khơng chấp nhận tính phi đạo đức, nghi kỵ trí thức, và độc quyền chính trị &amp; kinh tế của chủ nghia CS.&lt;br&gt;
Những người lãnh đạo CS với chủ trương đã vạch ra:&lt;br&gt;
&lt;strong&gt;triệt để tiêu diệt những mần mống chống đối CNCS gồm những thành phần mà họ đã liệt kê: đảng phái, tơn giáo, trí, phú, địa, hào. Rất nhiều nhân vật quốc gia tài đức đã bị CS sát hại chỉ để CS chiếm địa vị độc tôn trong chính quyền. Họ là những nhà tu hành đức độ, những trí thức tài giỏi, những thương gia mẫn cán, những thành viên trung thành hay cảm tình viên đắc lực của các đảng chống thực dân Pháp; họ là những điền chủ nhân từ, những chức sắc trong làng xóm được tôn kính; họ đã từng hợp tác tích cực với Việt Minh Cộng Sản trong gia đoạn chống Pháp, nhưng rồi lần lượt tất cả đều bị triệt hạ trong chủ trương "răn đe" và "giết lầm còn hơn tha lầm". &lt;/strong&gt;&lt;br&gt;
Sự kiện này đã dẫn đến sự kiệt quệ chất xám (trí htức) khiến đất nước khơng thể thóat ra khỏi tình trạng chậm tiến. Gần một triệu người Bắc di cư vào Nam sau 1954 và hơn hai triệu người di tản ra ngoại quốc sau 1975 đã nói lên sự bất mãn và ghê tởm chế độ CS. Đại đa số những người ở lại phải câm lặng chịu đựng để được yên sống. Nỗi uất ức, căm hờn đối với chính sách bạo tàn chưa từng có trong lịch sử lòai người đã đi vào tim gan, xương tủy, nên ý thức chống Cộng của thế hệ hệ cũ đã làm cho những người thuộc thế hệ cũ ngồi với nhau trong chốc lát là đã muốn trao đổi với nhau những chuyện chính trị trong đó có chuyện chống Cộng. Khơng phải họ là những người chống Cộng quá khích mà chỉ vì họ đã quá uất ức đối với những &lt;strong&gt;thủ đoạn dã man và lừa đảo của tập đòan lãnh đạo CS&lt;/strong&gt;. Tất cả đều trơng mong có một biến chuyển giải trừ được tai ách CS cho đồng bào được thở hút không khí tự do. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Người miền Bắc sau 1954 đã cho biết họ vẫn âm thầm trông ngóng người miền Nam tiến ra Bắc để diệt CS. Sư sụp đổ Nam VN sau 75 đã khiến cho hàng triệu người não nề tuyệt vọng. Ngày nay thì người Việt trong nước lại đặt hy vọng vào những người Việt di tản. CSVN thừa hiểu tâm trạng đó, và họ đã và đang tìm mọi cách để tiêu diệt ý thức chống CS đó. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ý THỨC CHỐNG CNCS của THẾ HỆ MỚI&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Thế hệ mới ở đây là thế hệ của những thanh niên sinh sau 1975, và hơm nay họ ở vào lứa tuổi trên dưới 25. Họ khơng cĩ một ý niệm gì sống động đối với chế độ và con người CS. Phần đơng các cha mẹ, anh chị em, đã ít nhiều kể cho họ về chính sách độc tài và thối nát của chế độ CS. Bản thân họ cũng tự tìm hiểu qua sách báo, hay qua bè bạn, hoặc qua những chuyến về thăm quê hương. Tuy những thanh niên này phần lớn lo học và ít quan tâm đến chính trị, nhưng tư duy chính trị của họ đã dần dần khai mở thêm trước những sự kiện xẩy ra kích động tới lương tri và trí tuệ như những chính sách diệt chủng, khống chế các dân tộc ít người, đàn áp tơn giáo, bắt bớ các nhà bất đồng chính kiến, và gieo rắc khủng bố tồn cầu, v.v., nên họ đã trở nên thích tìm hiểu những tin liệu chính trị qua internet, báo chí, và những buổi diễn thuyết để tránh tình trạng tư duy lạc hậu. Trong bối cảnh của thế giới chính trị hiện nay, họ khơng thấy một chút hữu lý nào trong vai trị độc tơn của đảng CS dẫn đến một hệ thống lãnh chúa địa phương quyền lực vơ hạn. Càng ngày người ta thấy càng cĩ nhiều thanh niên trí thức tham gia hoạt động chính trị theo hướng của chính họ trong các nỗ lực bảo vệ nhân quyền của các tổ chức nhất là các tổ chức của Liên Hiệp Quốc. Họ đã rút ra được những chân lý của thời đại đối với xã hội CS: chủ nghĩa CS là lỗi thời; chính những phần tử cộng sản kỳ cựu cũng đã muốn thay đổi tư duy; chế độ CS khơng cĩ dân chủ, tự do thực sự; khơng thể cĩ những hợp tác tin cậy và an tồn với người CS; và CS khơng từ bỏ bất cứ phương tiện nào để nhuộm đỏ tồn cầu và vì lợi ích của riêng Đảng CS. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;KẾT QUẢ CỦA Ý THỨC CHỐNG CỘNG&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ý thức chống CNCS chỉ chấm dứt khi chế độ CS bị xóa bỏ như ở Liên Xô và các nước Đông Âu thập niên cuối của thế kỷ 20. Trên thế giới chỉ cịn bốn nước cịn cố bám vào CNCS: Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, và Cuba vì lo sợ cho sự sống chết của họ hơn là vì lý tưởng. Ý thức chống CNCS của người dân Tây Tạng, Cuba, Hàn quốc, và Việt Nam vẫn tiếp tục bùng cháy ngày một lan rộng, và được nhiều nước cổ võ. &lt;strong&gt;Đó chính là lương tâm của thời đại&lt;/strong&gt;. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nhiều cuộc thăm dò cho biết thế hệ trẻ Việt Nam đều thương yêu quê hương tuy phần đông họ sinh đẻ ở ngoại quốc. Đó là tiếng gọi của Cội Nguồn trong tâm hồn mọi dân tộc. Nhưng hình ảnh những miền quê tàn tạ khơng trường, thiếu nhà thương, lại đầy những cường hào, ác bá tân thời; song song với cuộc sống chen chúc, xô bồ, thiếu vệ sinh và an tồn của các thành phố, và đặc biệt là hình ảnh những người dân tỏ ra sợ hãi chính quyền như bà già sợ cọp dữ, đã làm cho những chuyến về thăm quê cha, đất mẹ đã trở thành những ám ảnh buồn nơn và càng làm cho tâm não của giới trẻ trở thành cương định chán ghét chế độ CS &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Cũng cần để ý rằng, ý thức chống Cộng hơm nay của giới trẻ chủ yếu khơng phải là do các thế hệ trước truyền lại. Thực tế cho thấy tuy có nhiều thanh niên không mấy hưởng ứng lối chống Cộng ồn ào của cha chú, nhưng họ có những suy nghĩ tích cực riêng của họ phát xuất từ những sự kiện thực tế diễn ra trên các nước khác và trong đất nước. Họ hiểu rõ rằng rằng chế độ CS không thể làm cho đất nước phát triển vì nhiều những nguyên động lực cơ bản như ý thức hệ phản tiến hóa, tư hữu bị tứơc đoạt, tư bản bị đãng chiếm hữu; giới trí thức không có môi trường hoạt động; dân chúng không hợp tác trong hầu hết các hoạt động của nhà nước; hàng xuất khẩu thiếu phẩm chất và thiếu thị trường tiêu thụ; và họ cũng nhận ra cái gì thực sự giúp cho thế giới khơng bị nạn độc tôn chủng tộc, nhuộm đỏ, hay kỳ thị tôn giáo. Đó chính là những nỗ lực phát huy lý tưởng tự do, tinh thần dân chủ, và nhân quyền nhằm tiêu diệt mọi hình thức chuyên quyền độc đóan nó vốn ngự trị trong bản tính ác của những con người quỉ ám. Tuổi trẻ đang cần có những buổi họp mặt được tổ chức thường xuyên để họ nghe các thức giả nói chuyện và trao đổi kinh nghiệm. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Tìm lại, nên nhớ rằng Cuộc Chiến VN chấm dứt vì Hoa Kỳ đã sai một nước cờ trong chính sách giúp Việt Nam Cộng Hòa; Hoa Kỳ rút lui vì điều kiện chứ khơng hề thua trận; Quân Lực VNCH thực sự đã khơng đầu hàng, chỉ buông súng vì tình thế ép buộc; CSHN được hưởng trọn Nam VN nhưng khơng được tàn sát quân, cán chính VNCH. ý thức chống cộng sẽ tồn tại cho đến khi các chế độ CS sụp đổ. Các thế hệ sẽ nối tiếp nhau trong ý thức đó như những mắt xích xiết chặt và giật đổ các bức tường xã hội chủ nghĩa xuống như đã giật đổ bức tường ơ nhục Berlin phân chia Đơng và Tây Đức trước đây vậy. Cần bình tĩnh tin tưởng vào lương tri của con người, vào lương tâm của thời đại, và kiên nhẫn trong Cuộc Chiến Mới của Hoa Kỳ nhằm quyết định chiến thắng cuối cùng giữa chính và tà, giữa thiện và ác để thế giới cĩ thể thực sự bước vào kỷ nguyên thanh bình và thịnh vượng chung tồn cầu trên căn bản đa nguyên và đa văn hóa.&lt;/p&gt;
	&lt;p class="center"&gt;&lt;strong&gt;*&lt;/strong&gt;&lt;strong&gt;*&lt;/strong&gt;&lt;strong&gt;*&lt;/strong&gt;&lt;strong&gt;*&lt;/strong&gt;**&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;AZ 8/28/02
&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/cha_7888_ng_cha_7910_ngha_296_a_ca_7896_~1795304/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>vietnam</category><category>communism</category><category>politics</category><category>cncs</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/cha_7888_ng_cha_7910_ngha_296_a_ca_7896_~1795304/#comments</comments></item><item><title>Thỏa hiệp 14/9/1946: Hồ cấu kết với Pháp để tiêu diệt các đảng quốc gia</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/tha_7887_a_hia_7879_p_14_9_1946_ha_7891_~1795146/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/tha_7887_a_hia_7879_p_14_9_1946_ha_7891_~1795146/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 01:23:39 +0100</pubDate><description>	&lt;p&gt;Thỏa hiệp 14/9/1946: Hồ cấu kết với Pháp để tiêu diệt các đảng quốc gia (kỳ 2) &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Hứa Hoành &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;LTS: Bài viết dưới đây của cố học giả Hứa Hoành và đã được đăng tải trên một số báo chí trước đây. Nhân dịp 30 Tháng Tư, chúng tôi đăng tải lại một số bài viết của ông, để độc giả có thêm tài liệu khi tìm hiểu về Cộng Sản Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Vì bài viết này khá dài, chúng tôi xin được đăng tải làm hai kỳ liên tiếp. Kỳ trước chúng tôi đã đăng tải phần I, nay xin đăng tiếp phần 2.Kỳ 2 (tiếp theo và hết) &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ðiều thứ IX:&lt;br&gt;
Tha thiết bảo đảm càng sớm chừng nào càng hay chừng ấy, ở Nam Bộ và miền Nam Trung Kỳ, sự khôi phục một trật tự công cộng vừa cần thiết cho nguyện vọng tự do về các quyền tự do dân chủ vừa vãn hồi, và nhận định những phản động lực may mắn phát do sự ngưng những hành động xung đột và bạo động của đôi bên. Chính phủ Pháp và chính phủ Cộng Hòa Việt Nam, đồng thảo các biện pháp sau đây: &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;a. Ðôi bên chấm dứt tất cả những hành động xung đột và bạo động. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;b. Những hiệp định của các bộ tham mưu Pháp Việt, sẽ quy định các điều kiện thi hành và kiểm soát những biện pháp quyết định chung. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;c. Những tội phạm hiện còn bị giam cầm về nguyên do chính trị, sẽ được thả ra, chỉ trừ những kẻ bị truy tố về hình sự và thường phạm (droit commun). Với những tù binh bắt được trong các cuộc hành quân, cũng sẽ quy định y như thệ Việt Nam đảm bảo không truy tố bất cứ người nào đã cộng tác hoặc trung thành với Pháp quốc, và chẳng dung tha bất cứ bạo hành nào chống những kẻ ấy. Bù lại, chính phủ Pháp cũng đảm bảo không truy tố bất cứ người nào cộng tác với Việt Nam, và không dung tha bất cứ bạo hành nào chống lại kẽ ấy. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;d. Việc hưởng các quyền tự do dân chủ giải thích ở điều khoản thứ I, sẽ được đôi bên đảm bảo lẫn nhau. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;e. Sẽ chấm dứt những sự tuyên truyền bất hữu ái của đôi bên. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;f. Chính phủ Pháp và chính phủ Cộng hòa Dân Chủ Việt Nam, sẽ cộng tác với nhau, để làm cho kiều dân các nước nghịch cũ, không làm hại gì được nữa. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;g. Một nhân vật do chính phủ Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam đề cử, và được chính phủ Pháp công nhận, sẽ được gởi tới bên Thượng sứ Pháp, để cộng tác và thi hành những điều thỏa thuận nầy. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ðiều thứ X: &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, đồng ý chung tìm cách ký kết những hiệp định riêng về tất cả vấn đề có thể đưa ra hầu thắt chặt tình hữu nghị, và dọn đường để ký kết một hiệp ước chung vĩnh viễn. Cuộc thương thuyết sẽ tiếp tục về mục đích nầy sớm chừng nào càng hay, và trễ lắm là vào tháng Janvier 1947. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Ðiều thứ XI: &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Toàn thể những điều khoản trong “Thỏa hiệp án” nầy chia làm hai bản, sẽ được thi hành vào ngày 30 Octobre 1946.” &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;HCM và Jean Sainteny trên chiếc thủy phi cơ đi Vịnh Hạ long để ký HĐ sơ bộ 6.3.46 cho Pháp trở lại VN Ðọc qua nội dung, chúng ta thấy rõ Hồ Chí Minh nhượng bộ Pháp gần như đầy đủ các quyền lợi như hồi Việt Nam còn là thuộc địa của nước Pháp. Ở vào hoàn cảnh lúc đó, người ta mới thấy sự thiệt thòi của Việt Nam. Với hiệp ước tạm 14/9/46 hay “Tạm ước” nầy, nước ta chỉ hưởng được những từ ngữ mới “Nước Việt Nam Cộng Hòa Dân Chủ”, được tự dọ, còn sự thật, người Pháp nắm tất cả mọi ngành, từ chính trị, quân sự, ngoại giao, quan thuế, tiền tệ. Lý do thầm kín là ông Hồ cần dựa vào Pháp, cần cộng tác với Pháp, để có thì giờ tận diệt người quốc gia.&lt;br&gt;
Với đảng Cộng Sản Ðông Dương lúc đó (dù trên danh nghĩa giả bộ giải tán từ 11/45), nước Pháp không phải là kẻ thù trước mắt. Các đảng Ðại Việt, Quốc Dân Ðảng, Ðồng Minh Hội, Cao Ðài, Hòa Hảo, Trotkyst.... tuy là đồng bào ruột thịt, cùng một mục đích tranh đấu giành độc lập, nhưng bị ông Hồ và Việt Minh coi như thù địch không đội trời chung. Ðó là chính sách, đường lối của ông Hồ và mặt trận Việt Minh, rồi Liên Việt. Vì cần bảo vệ sự độc quyền lãnh đạo của đảng Cộng Sản, ông Hồ phải bí mật tiêu diệt tả hữu, từ Trotkyst đến người quốc gia, không cho một mầm mống nào tồn tại. Trong con mắt của ông Hồ thời đó, nước Pháp bấy giờ là “nước Pháp mới”, vì có tổng bí thư đảng Cộng Sản Pháp Maurice Thorez làm phó thủ tướng chính phủ. Trong chuyến đi Pháp lần này, ông Hồ còn đem theo 20 kg vàng, tặng cho báo l“Humanité, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Pháp, để họ làm cái loa ủng hộ ông ta và Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Vì thế khi vừa đặt chân lên Paris, ký giả Simonne Terry của l“Humanité liền viết một bài “l“Oncle Hồ” (Bác Hồ), để ca ngợi ông ta. Sự thật chính cái “nước Pháp mới” đã đổ bộ vào miền Bắc Việt Nam, đưa quân chiếm các vị trí hiểm yếu, đang sẵn sàng đè bẹp các cuộc chống đối của kháng chiến VM. Ðiều này có hại cho dân tộc Việt Nam, nhưng có lợi cho riêng ông Hồ và đảng Cộng Sản của ông ta. Hồi các năm 1945 - 46, Việt kiều tại Pháp có đoàn kết, nhưng không suy tôn, thờ phụng Hồ Chí Minh như thần thánh, không làm lễ sinh nhựt của ông ta như đảng Cộng Sản Việt Nam mong muốn. Họ ủng hộ Việt Minh trong chừng mực nào đó, và phản đối ông Hồ trong “Thỏa hiệp án 14/9/46”, cũng như Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/46. Xin nhắc lại tình hình của người Việt tại Pháp hồi năm 1946. Khi ông Hồ sang Pháp, thì cộng đồng Việt kiều ở đây khoảng 14.000 người, gồm lính thợ, công binh, một số ít gia đình, du học sinh có mặt ở Pháp. Cộng đồng Việt kiều có đoàn kết, nhưng không “đoàn kết trong mặt trận VM, không chịu nhận sự lãnh đạo của Việt Minh (Xem thêm Ðặng Văn Long “Người Việt ở Pháp, trang VIII đến IX). &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Cần phân biệt có hai thứ đoàn kết: &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Một là “đoàn kết trong mặt trận VM”, “đoàn kết chung quanh bác Hồ” Còn đoàn kết theo nghĩa thông thường, để gây sức mạnh, thì lúc đó không còn nữa.&lt;br&gt;
Một người có nhiều kinh nghiệm về “đoàn kết” là ông Bùi Tín, viết: “Ðoàn kết trong mặt trận Việt Minh, trong mặt trận Liên Việt, hay trong mặt trận Tổ Quốc... có nghĩa là theo sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, vâng lời đảng Cộng Sản, chịu mọi sự áp đặt của đảng Cộng Sản. Nói khác với đảng, cãi lại đảng là “vi phạm tinh thần đoàn kết”, là nhằm cách phá vỡ khối đoàn kết, là có tội, có khi tội rất nặng” (Mặt thật, trang 120). &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Dù chưa có kinh nghiệm với VM, Việt kiều có lẽ cũng thấy rõ những âm mưu thầm kín của họ Việt kiều chỉ đoàn kết để tranh giành độc lập cho nước Việt Nam, nhưng không tranh đấu dưới ngọn cờ của VM, của Cộng Sản. Vì lẽ đó, khi vừa tới Pháp, &lt;strong&gt;ông Hồ tìm cách phá vỡ khối đoàn kết (không chịu theo VM). Ông tìm cách phá hoại sự đoàn kết của người theo chủ nghĩa quốc gia&lt;/strong&gt; với những người Trotkyst, tức Cộng Sản đệ tứ, kẻ thù không đội trời chung của ông Hồ, tức Cộng Sản đệ tam. Tại Pháp, ông Hồ không thể dùng chính sách khủng bố để tiêu diệt những kẻ “không chịu đoàn kết trong mặt trận VM” Ông Hồ sử dụng âm mưu về chính trị “kêu gọi công binh, Việt kiều” hãy đoàn kết chung quanh bác Hồ“ Sống lâu trên đất Pháp, người Việt nhiễm tư tưởng tự do, không bị gò bó như dưới chế độ thuộc địa. Họ tố cáo ông Hồ khi thấy ông để lộ gian ý “ủng hộ nước Pháp mới”, tức nước Pháp thực dân, chỉ vì có lãnh tụ Cộng Sản Pháp làm phó thủ tướng chính phụ Việt kiều cũng tố cáo “Liên hiệp Pháp” chính là đế quốc trá hình mà ông Hồ không ngớt ca tụng.... Bây giờ, ông Hồ đường đường chính chính là chủ tịch nước, do quốc hội bầu cử gian lận (xem “Trần Trọng Kim” Một cơn gió bụi, trang 104) tấn phong. Ông Hồ tìm mọi cách dựa vào đảng Cộng Sản Pháp để nhờ họ giúp đỡ. Khốn nỗi, khi chưa chiếm được chính quyền, đảng Cộng Sản kêu gọi “hãy giải phóng các dân tộc thuộc địa”, giải phóng giai cấp bị bốc lột. Ðến khi Maurice Thorez trở thành phó thủ tướng chính phủ, còn nhiều đảng viên trở thành bộ trưởng, thì Cộng Sản Phap liền trở mặt: “Cỡ đại Pháp phải được cắm lại trên các thuộc địa” (Thorez). Báo l“Humanité, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Pháp, số ra ngày 3/8/44, ủy viên trung ương đảng Cộng Sản Pháp tuyên bố: “Nhân dân Pháp muốn rằng xứ Ðông Dương, cũng như các đại thuộc địa khác, sẽ trở về nước Pháp đầy đủ, không mất một tấc đất nào, để xây dựng một cộng đồng Liên bang Ðại Pháp” Tháng 1/45, tờ nhựt báo “Ce Soir”, cơ quan của đảng Cộng Sản nhấn mạnh: “Là một đại cường quốc, nước Pháp phải được tham gia vào cuộc chiến ở Thái Bình Dương. Là một đại cường quốc có thuộc địa, nó (Pháp) phải giữ lấy thuộc địa ở khắp nơi và tái chiếm Ðông Dương” (Ðặng Văn Long, Người Việt ở Pháp 1940 - 1954, trang XII). Hồ Chí Minh cử ông Trần Ngọc Danh (em ruột Trần Phú) làm đại diện chính thức cho chính phủ tại Pháp từ năm 1946. Ðể lôi kéo những người không thích Cộng Sản, Danh tuyên bố “Hồ Chí Minh không phải là người Cộng Sản” Chưa hết, Danh còn cho in lại bài phỏng vấn của nhà báo Thụy Sĩ, trong đó Hồ Chí Minh nói: “Các bạn của Việt Nam đừng quá lo ngại, chủ nghĩa Cộng Sản không thể nào du nhập được ở xứ tôi”. Rõ ràng chính ông là cán bộ quốc tế cộng sản, đã đem chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam từ thập niên 1920, mà bây giờ ông lại phủ nhận điều đọ Quả thật, &lt;strong&gt;đây là thủ đoạn của ông Hồ. Ông nói láo không ngượng miệng&lt;/strong&gt;. Nên nhớ khi, còn ở Tân Trào, ông tâm sự với mấy người Mỹ trong toán OSS, đang huấn luyện cho du kích của ông: “Những cán bộ lãnh đạo VM, đã bị mật thám Pháp vu cáo là Cộng Sản” (Chính Ðạo “HCM: Con người. Huyền thoại”, trang 357). Còn trong báo “Ðộc Lập” (tức Cộng Sản trá hình) xuất bản ngày thứ ba 4/9/45, trong danh sách chính phủ “quốc gia” liên hiệp, ông Hồ: chủ tịch kiêm ngoại giao “đảng quốc gia”. (Xin xem tờ báo đính kèm với bài nầy). Qua thỏa hiệp án nầy, cũng như trong Hiệp ước sơ bộ ngày 6/3/46, &lt;strong&gt;Hồ Chí Minh đã bán rẻ quyền lợi quốc gia dân tộc, kéo dài thêm cuộc kháng chiến, để củng cố quyền lãnh đạo của Cộng Sản. Chiêu bài “độc lập”, “tự do” cũng chỉ là những công cụ tuyên truyền lừa dối&lt;/strong&gt;. Mặt trận Việt Minh, cũng như người sáng lập ra nó (ông Hồ), chỉ là một cái công ty chuyên môn lừa bịp, khủng bố, đàn áp, nhưng lại &lt;strong&gt;ngụy trang &lt;/strong&gt;trong bộ mặt đấu tranh “giải phóng dân tộc” Ngoài một số trí thức có nghiên cứu về chính trị, biết rõ thủ đoạn của Cộng Sản, còn đại đa số người dân, hay quần chúng Việt Nam, vì chưa có kinh nghiệm, lại nóng lòng vì độc lập, tự do, nên trở thành viên gạch lót đường cho Việt Minh Cộng Sản tiến tới mục đích cuối cùng của họ. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Nhận xét về “Thỏa hiệp án 14/9/46” &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Khoản thứ 1:&lt;br&gt;
Việt Nam lúc đó tự nhận là một quốc gia độc lập, có chủ quyền (dù không một nước nào trên thế giới nhìn nhận), mà lại nhường cho Pháp các quyền tự do như chính trong nước của họ là tại sao? Tạm ước cho phép người Pháp được tự do cư trú, đi lại sinh sống, ngôn luận, văn hóa, có khác nào như Pháp sống trên lãnh thổ của hỏ Ðiều đó có nghĩa là hiện ta đang chiến đấu chống ngoại xâm, tự mình buông khí giới, dùng lời nói, giấy mực... tiến hành đánh Pháp. Lại còn cho Pháp tự do buôn bán, kinh doanh không giới hạn ở nước ta, thì như vậy có khác chi tình trạng một thuộc địa như trước đây. Trong lịch sử, chưa có một quốc gia nào chống ngoại xâm theo kiểu ấy. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Khoản 2:&lt;br&gt;
Việt Nam đồng ý trao trả lại cho người Pháp tất cả xí nghiệp, tài sản... tất cả những thứ mà ta đã tịch thu của Pháp, như vậy là trái với cương lĩnh Mặt Trận VM từ năm 1941. Nói một đàng, làm một nẻo. Hồi chưa chiếm được chính quyền, ông kết án chế độ Pháp tại Ðông Dương: “Tại các thuộc địa Pháp, cảnh khốn cùng và đói khát ngày càng gia tăng, nổi uất hận càng dâng cao, tinh thần phấn đấu của nông dân....” vậy mà khi đã chiếm chính quyền, ông lại dễ dàng thỏa hiệp với Pháp, nhường cho Pháp đầy đủ các đặc quyền như thời thuộc địa, tại sao? Ðể Pháp tiếp tục đàn áp, bốc lột để thống trị Việt Nam thêm một thời gian nữa, đặng ông ta rảnh tay tiêu diệt đối lập trong chinh phủ liên hiệp? &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Khoản 3: &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Cho Pháp tự do đặt chương trình giáo dục, mở trường học các cấp, dạy văn hóa Pháp không hạn chế, như vậy chủ quyền độc lập của Việt Nam ở đâu? Tại sao ông Hồ phải nhượng bộ các quyền lợi cho Pháp như vậy? &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Khoản 4:&lt;br&gt;
Khi cần, Việt Nam phải ưu tiên mướn chuyên viên của Pháp. Ðiều nầy giống như VC bây giờ buộc các công ty nước ngoài ở Việt Nam, phải thuê mướn người do đảng cộng sản giới thiệu là ưu tiên, là một điều kiện không bình đẳng. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Khoản 5:&lt;br&gt;
Là nước tự do, nhưng Việt Nam chấp nhận không có tiền tệ riêng, phải xài chung đồng bạc của các xứ liên bang Ðông Dương. Tiền tệ do chính ngân hàng Ðông Dương của Pháp phát hành, chớ không phải của Việt Nam. Hơn nữa đồng bạc Ðông Dương phải phụ thuộc vào đồng franc (phật lăng) của Pháp. Như vậy đâu còn là một quốc gia tự do như đã khẳng định ở trên. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Khoản 6:&lt;br&gt;
Việt Nam nằm trong Liên hiệp Pháp về giao thông, vận tải, có nghĩa là Pháp tự do định đoạt, vì Việt Nam đâu có phương tiện, máy móc tàu bè gì. Về ngoại giao, Việt Nam muốn giao thiệp với ai, phải do Pháp quyết định, như vậy có khác gì thời thuộc địa? Tại sao ông Hồ lại chấp nhận cho chính phủ Pháp quyết định vấn đề ngoại giao của ta, trong khi ta không có quyền dòm ngó, can thiệp vào việc ngoại giao của Pháp? &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Khoản 9:&lt;br&gt;
Việt Nam phải nhìn nhận cuộc kháng chiến ở Nam Bộ từ ngày 23/9/1945 đến 14/9/1946 là bất hợp pháp, là “phá rối an ninh trật tự” Là người dân Việt Nam, quý độc giả nghĩ sao? Việt Nam tuyên bố chống Pháp giành độc lập, nhưng bây giờ ông Hồ hợp tác với Pháp toàn diện, thỏa mãn tất cả yêu sách của Pháp, như vậy ông Hồ phản bội quyền lợi dân tộc hay yêu nước như tuyên truyền? Ðình chiến mà không đặt điều kiện có nghĩa là quân Pháp đi tới đâu ta cũng không được đánh. Việc thả tù binh, theo định nghĩa “tù chính trị” cũng rất mơ hộ Người Pháp đưa quân đến đây để dàn áp, chém giết nhưng người Việt Nam chống lại, bây giờ lại “ân xá” trong khi cuộc chiến còn tiếp diễn. Ngoài ra Việt Nam cũng như Pháp, phải chấm dứt tuyên truyền ác cảm chính là một sự lừa phỉnh. Ðiều nầy Pháp biết, ông Hồ biết, nhưng cứ giả bộ thành thật để dối gạt lẫn nhau, để ông Hồ có thì giờ khủng bố, sát hại đồng bào, vì yêu nước, tranh dấu giành độc lập như ông, nhưng &lt;strong&gt;không &lt;/strong&gt;chịu “&lt;strong&gt;đoàn kết trong Mặt Trận Việt Minh&lt;/strong&gt;” với ông mà thôi. Chiến tranh kiểu gì kỳ cục vậy? Các quyền tự do mà Pháp hứa cho Việt Nam chẳng qua là một sự rao hàng, phỉnh phờ, nhưng ông Hồ dùng nó làm vốn liếng để tuyên truyền đặng câu giờ để tàn sát những phần tử yêu nước, muốn tranh giành với Việt Minh Trên các sách báo từ năm 1945, Việt Minh luôn tự hào là một quốc gia độc lập “nhà nước công nông đầu tiên ở Ðông Nam Á”, nhưng lại chấp nhận tất cả mọi yêu sách của thực dân như hồi còn là thuộc địa. Dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông Hồ được mối lợi gì, chẳng qua chỉ là cái &lt;strong&gt;bánh vẽ&lt;/strong&gt;. &lt;strong&gt;Ðối với ông Hồ, tất cả chỉ là phương tiện, nhưng có điều tất cả những phương tiện của ông Hồ sử dụng đều có hại cho quyền lợi quốc gia dân tộc quá nhiều.&lt;/strong&gt; Chiến thuật có hại cho dân tộc chính là sự phản quốc. Mà &lt;strong&gt;ông Hồ dùng các chiến thuật phá nát đất nước, tàn bạo, giết hết người yêu nước, như vậy ông Hồ chính là kẻ phản quốc&lt;/strong&gt;, chứ không có công trạng gì với đất nước như cộng sản thêu dệt, bịa đặt để khoa trương.. Là cán bộ cộng sản quốc tế thuần thành, ông Hồ thuộc nằm lòng các thủ đoạn của đàn anh. Ông mô phỏng các mánh mung ấy nhưng không nêu xuất xứ.&lt;br&gt;
Bọn đàn em cứ bịa đặt thành tích rồi râm ran ca tụng như thần thánh. Nào “Bác vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê vào hoàn cảnh Việt Nam”, nào “tư tưởng Hồ Chí Minh”, sự thật tất cả chỉ là sự &lt;strong&gt;bịa đặt&lt;/strong&gt;. Thủ đoạn ông Hồ bắt tay với Pháp để ký liên tiếp hai hiệp ước sơ bộ 6/3/ 1945 và thỏa hiệp án 14/9/1946, chỉ là sao y mánh khóe của Lenin sau cách mạng 1917 tại Nga. Mánh khoe ấy là “ &lt;strong&gt;nhịn giặc ngoài để diệt thù trong &lt;/strong&gt;” Ðó là lý do Lenin ký hiệp ước Brest - Litovsk vào ngày 3/3/1918. Hiệp ước nầy cũng gần như đầu hàng Ðức Áo, để rảnh tay tiêu diệt kẻ nội thù của đảng cộng sản. Ông Hồ còn bắt chước chiến thuật “ &lt;strong&gt;tiêu thổ kháng chiến&lt;/strong&gt; ” của Nga hồi thế chiến thứ hai. Tuy nhiên, vì quá nô lệ, ông không phân biệt được chỗ đúng và sai Nga là quốc gia hàn đới, mùa đông cần chỗ trú ẩn, điện nước. Phá hủy nhà cửa, cắt điện nước, tức là làm cho quân địch phải tuyệt vọng vì không thể “sống ngoài trời, thiếu điện sưởi ấm và nước để uống. Còn áp dụng tiêu thổ kháng chiến ở Việt Nam, phá dinh thự, nhà cửa, không làm cho Pháp thiệt hại gì cả, vì họ đóng quân ngoài đường, trong rừng, có nước uống. Ðó là sai lầm lớn và tội trạng của ông Hồ và Mặt Trận Việt Minh, vì tới nay, trên nửa thế kỷ qua, khắp nơi trên đất nước, còn nhiều cây cầu bị Việt Minh phá hủy, chưa khôi phục lại được. Còn các tổ chức Mặt Trận Việt Minh, nêu khẩu hiệu lừa bịp “Kháng Nhật cứu quốc”, cũng như các tổ chức “chiến khu”, “quân giải phóng”, “cứu quốc”, “Việt gian” &lt;strong&gt;tất cả đều là sự rập khuôn, mô phỏng theo tổ chức của Mao Trạch Ðông. Ông Hồ không có bất cứ một sáng kiến gì cả. Lợi dụng thời cơ kẻ địch xâm lăng Việt Nam, Pháp Nhật, ông Hồ và Mặt Trận Việt Minh đeo mặt nạ, lớn tiếng rêu rao “giải phóng dân tộc, chiến đấu giành độc lập, tự do” tất cả đều là sự giả dối, có mục đích chiếm chính quyền, rồi tiến hành đưa đất nước vào quỹ đạo quốc tế cộng sản.&lt;/strong&gt; Chớp được cơ hội Nhật đầu hàng, Pháp chưa trở lại, Việt Minh từ rừng sâu treo bảng cách mạng, nhảy lên địa vị chính phủ một cách bất hợp pháp, mưu đồ giành lấy chủ quyền độc tôn, để bành trướng chủ nghĩa cộng sản ra các lân quốc, theo sách lược của cộng sản đệ tam. Mọi sự nhân nhượng, cấu kết với Pháp qua hai hiệp ước kể trên, không phải do tình thế bắt buộc: đó là sự dự mưu đã được ông Hồ phác thảo từ lúc mới chuẩn bị cướp chính quyền. (Tưởng Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc, Thượng Huyền dịch, tr. 371-) “Ông Hồ thà nhường cho Pháp tiếp tục thống trị Việt Nam thêm một thời gian, chứ không muốn cho các dẳng phái Việt Nam khác, đứng ra lãnh đạo một nước Việt Nam độc lập”, Ðó chính là ý đồ thầm kín của ông Hồ. Các hành động của ông lúc nầy (1946), chỉ xoay quanh ý đồ cộng sản độc chiếm chính quyền mà thôi. Ông Hồ gặp gỡ kiều bào trên đường về Khi hay tin Hồ Chí Minh sẽ ghé thăm và nói chuyện về hiệp ước 14/9/ 1946, kiều bào Việt Nam tổ chức cuộc đón tiếp ngày 17/9/1946. Lúc đó ở Pháp, có tin đồn chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sẽ bị ám sát trên đường về nước (Ðặng Văn Long, người Việt Ở Pháp, tr. 117). Ðiều nầy đã chứng tỏ thái độ bất mãn của Việt kiều với ông Hồ. Trên đường xuống Toulon về nước, ông Hồ qua sân vận động, là chỗ 3,000 Việt kiều tập họp để chào đoán phái đoàn. Ông Hứa Văn Nên đọc diễn văn, bày tỏ sự băn khoăn thắc mắc của kiều bào đối với hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 và thỏa hiệp án 14/9/1946. Lý do chính phủ nhượng bộ cho Pháp quá nhiều, gần như đầu hàng.&lt;br&gt;
Ông Nên nói: “Chúng tôi không chống đối việc thương thuyết, nhưng thấy chủ tịch nhường cho Pháp quá nhiều quyền lợi về kinh tế, chánh trị, hơn cả hiệp ước sơ bộ 6/3/1946.” Ðáp lại thái độ của công binh và của Việt kiều hồi ấy, Hồ Chí Minh không một lời nói đến sự lo ngại của công binh, mà bắt đầu bằng một sự kiện khác: “Hội nghị Fontainebleau tuy không thành công, nhưng là một thắng lợi của phái đoàn quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Không thành, nhưng hội nghị Fontainebleau là một thắng lợi của nhân dân ta, thắng lợi của toàn thể nhân dân yêu chuộng hòa bình ở khắp thế giới“ “Thay mặt chánh phủ và quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do toàn dân bầu cử (chỗ nầy sai, chỉ có miền bắc và vài tỉnh Trung kỳ, mà bầu cử gian lận), tôi khuyên kiều bào là công việc chánh trị để cho những người chuyên môn giải quyết, kiều bào hãy cố gắng chăm lo học lấy một cái nghề tinh xảo, để góp vào việc kiến thiết quốc gia. Ðất nước chúng ta cần đến những người con có nghề nghiệp tinh xảo. “Tôi nhắc lại một ý kiến mà kiều bào đã biết là nước ta như người có ruộng mà không có thóc, nước Pháp là người có thóc mang sang trồng ở ruộng ta, đến vụ gặt hái đem chia đôi, hai bên cùng có lợi, có phải như thế không? Kiều bào hiểu chưa?” Không một tiếng trả lời. Hồ Chí Minh nhắc lại “Kiều bào hiểu chưa?” Hơn 3000 người im phăng phắc, ngoài một tiếng phía gần cuối hàng vụt lên “hiểu rồi” Ðó là tiếng nói của một công binh Cơ ngoại hạng tên Nguyễn Văn Trọ” (Ðặng Văn Long, sđ. tr. 117). Còn tờ báo Nam Kỳ, số ra ngày thứ hai 23/9/1946, vừa binh vực Pháp, vừa khen ông Hồ như sau: “May thay, ở phương Bắc, còn có người biết quý sinh mạng của thanh niên Pháp và Việt Nam, còn có người biết nhân nhượng, còn có người biết cố gắng, còn có người chịu khó tìm hiểu nhau, người đó là cụ Hồ Chí Minh, ông Vũ Hồng khanh và ông Saintena. ba ngươi đã ký hiệp ước Pháp Việt ngày 6/3/1946” Nhưng cùng với sơ ước 6/3/1946, thuyết chia rẽ ra đời, làm cho cuộc xung đột Pháp Việt kéo dài ở Nam bộ “Hội nghị Ðà Lạt. hội nghị Fontainebleau không thành, người ta đã tưởng tượng tới cảnh núi xương sông máu cùng khắp non sông nước Việt. Song vẫn có người sáng suốt thấy xa, vẫn có người thành thật muốn hiệp tác và chấm dứt cuộc đổ máu tai hại cho cả đôi bên, nên đồng ý ký hiệp ước tạm thời 15/9/1946 (nguyên bản) để cứu vãn tình hình nghiêm trọng, chấn chỉnh nhân tâm, phục hưng kinh tế trong khi chờ sang năm 1947, ký một hiệp ước vĩnh viễn. Người đó lại là cụ Hồ Chí Minh với ông Bidault, thủ tướng Ðệ tứ cộng hòa Pháp....” Chắc chắn lời khen nầy không giá trị, vì chỉ cuối năm, chiến tranh bùng nộ Hai bên Pháp và Việt Minh đều bịp lẫn nhau, nhưng giả bộ như thật, để chuẩn bị mở rộng chiến tranh. Chỉ có người quốc gia theo chủ nghĩa dân tộc bị thiệt thòi. Lý do, ông Hồ tạm hòa với Pháp, để tiêu diệt người cùng đoàn kết với mình trong chính phủ liên hiệp. Ðó là ý đồ thầm kín của ông Hồ và thực dân Pháp. Còn dưới đây là ý kiến của một nhân chứng thời cuộc, đã tham dự vào Mặt Trận Việt Minh, chúng ta càng thấy rõ thủ đoạn của ông Hồ: “Làm thế nào biết được khi ông ta (Hồ) lầm lũi trong đêm khuya đến nhà riêng xin ký với Marius Moutet? Làm thế nào biết được khi ông ta (Hồ) cho Pháp tất cả mọi điều Pháp muốn, từ đồng bạc đến nền ngoại giao, khi một người đàn bà vô học, cứ van lạy không thôi, cũng đòi lại đôi chút quyền lợi, nhiều hơn tạm ước 14/9” (Nguyễn Kiên Trung, Ðem Tâm Tình Viết Lịch Sử, tr. 79). Thắng lợi tại quê nhà Như trên đã nói, ông Hồ và hai đoàn dân biểu, bộ trưởng vừa thành lập chính phủ, đã kéo rốc sang Pháp, kể chủ tịch mới được tấn phong. Công việc nước nhà bề bộn: Pháp đưa quân chiếm đóng các tỉnh miền bắc, chiếm các vị trí hiểm yếu. Nội bộ Việt Nam cũng rối ren không kém. Các đảng còn tranh chấp nhau, tố cáo lẫn nhau vì chánh phủ nói một đàng làm một nẻọ Nước Pháp cũng rối ren, chưa sẵn sàng đón tiếp quốc khách công du. Tuy vậy, ông Hồ vẫn cứ đi, đi cho vắng mặt tại Việt Nam. Ông đã có mưu đồ thầm kín. Các bộ trưởng của chính phủ mới cũng đi để khỏi thấy cảnh đồng viện, đồng bộ trưởng ở nhà đang bị sát hại bởi cái chính phủ mà họ đang tham gia. Vừa về tới Hà Nội, Hồ Chí Minh họp báo tuyên bố “Chúng tôi quyết đoạt được độc lập, nhưng chúng tôi cũng quyết định sống trong Liên Hiệp Pháp (đế quốc trá hình). Nước Pháp yêu chuộng dân chủ và tự do. Không lý do nào mà Pháp từ chối. Tôi dám cam kết rằng chính phủ Pháp đã có ý định thi hành nghiêm chỉnh tạm ước vừa ký kết” Chỉ 3 tháng sau, Pháp tấn công toàn diện! “Tạm ước nầy rất cần thiết, tiện sự giao hảo giữa hai nước Pháp Việt, trước khi hội nghị tháng giêng tới đây.” (Nam Ðình, tài liệu lịch sử, tr. 364) Rõ ràng lời tuyên bố của ông Hồ đều hoàn toàn xảo trá. Các sự kiện xảy ra sau đó mấy tháng đã chứng minh sự thật. Về tới Hà Nội, điều đầu tiên ông Hồ hài lòng là tất cả nhân vật thuộc các đảng quốc gia tham dự chính phủ liên hiệp đều bị loại: kẻ bị giết, người bị bắt cóc thủ tiêu, người bị giam cầm nơi kín đáo, còn người nhanh chân thì đã vượt biên sang Trung Hoa. Bây giờ Việt Minh một mình một chơ Ðảng Dân Chủ vẫn được giữ lại làm bình phong để Việt Minh ngụy trang trong đó. Như vậy, ông Hồ phải lập chính phủ mới với các thành phần mới trong Mặt Trận Liên Việt, tổ chức cộng sản trá hình thứ hai, để thế giới không thấy rõ cả chính phủ đều là cộng sản! Vì thế quốc hội nhóm càng sớm càng tốt. Ông Hồ âm thầm ra lịnh triệu tập quốc hội vào ngày 28/10/1946. Trước ngày nhóm quốc hội, Võ Nguyên Giáp bố ráp một lần nữa, bắt hết cán bộ của những đảng đối lập, nên từ ngày 23 đến 27/10, có hơn 200 người “tình nghi đối lập” bị bắt và bị thủ tiêu như Vũ Ðình Chí, biên tập viên báo Việt Nam (Quốc Dân Ðảng), thường viết bài xã thuyết chống Việt Minh, chống lập trường của chính phủ. Sau đợt nầy, không còn dối lập nữa. Ðúng ngày 28/10/1946, quốc hội nhóm tại nhà hát lớn. Lần nầy chỉ còn 210 dân biểu hiện diện, 70 dân biểu đối lập thì lớp bị thủ tiêu, hoặc đang trốn, nay còn lại không quá 20 người và cũng ngã theo Việt Minh. Ba ngày đầu, không có gì quan trọng. Ngày thứ tư 31/10/1946, Hồ Chí Minh ra trước quốc hội trình bày những hoạt động của chính phủ từ 6 tháng nay, để rồi từ chức, ông viện lẽ “tình hình biến chuyển, cần có một chính phủ mạnh mẽ hơn để đối phó mọi biến cộ“ “Quốc hội hoan nghinh (vì toàn thể đều là Việt Minh của ông Hồ), rồi biểu quyết tặng Hồ Chí Minh danh hiệu “công dân thứ nhứt Việt Nam”, đồng ý giao cho Hồ Chí Minh lập chính phủ khác. Ba ngày sau (3/11), Hồ Chí Minh lại ra trước quốc hội trình thành phần chính phủ mới:&lt;br&gt;
- Hồ Chí Minh: chủ tịch kiêm ngoại giao, Vài ngày sau, Hoàng Minh Giám được cử làm thứ trưởng.&lt;br&gt;
- Võ Nguyên Giáp: bộ quốc phòng&lt;br&gt;
- Tạ Quang Bửu: thứ trưởng quốc phòng.&lt;br&gt;
- Huỳnh Thúc Kháng: bộ nội vu&lt;br&gt;
- Hoàng Hữu Nam: thứ trưởng nội vụ&lt;br&gt;
- Phạm Văn Ðồng: thứ trưởng kinh tế Chắc quý độc giả cũng thấy vắng các vị như Nguyễn Tường Tam (Việt NamQÐ), Nguyễn Hải Thần (Ðồng Minh Hội), Vũ Hồng Khanh. Cả ba đã trốn sang Tàu! Còn bác sĩ Trương Ðình Tri (Ðồng Minh Hội) cũng bị loại ra khỏi hàng ngũ Nghiêm Kế Tổ thì tự ý rút lui vì hiểu rõ tâm địa cộng sản. Ðó là bề mặt. Quyền hành thực sự nằm trong tay Tổng bộ Việt Minh, tức trung ương đảng Cộng Sản: đó là các ông Hạ Bá Cang, Trần Huy Liệu, Trường Chinh, Trần Ðăng Ninh. Bước thứ nhất đã được ông Hồ thực hiện: loại tất cả đối lập trong chính phụ Có điều ông khéo ngụy trang: vắng mặt để Giáp ngụy tạo tội trạng, tấn công các đảng quốc giạ Việt Minh truy đuổi họ đến tận biên giới Lào Cay hay Lạng Sơn để thực hiện việc “Việt Minh độc chiếm chính quyền, không chia xẻ với bất cứ ai“ Sách Hồ Sơ Ðệ Tứ Việt Nam thuộc Tủ sách Nghiên Cứu Paris 2000, trang 13 viết “Cũng đi từ quan niệm độc quyền lãnh đạo, ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam đã mở cuộc diệt trừ tả hữu từ Trotkyst đến quốc gia, không cho một mầm mống nào đối lập có thể trồi lên được” Trước đó mấy tháng, cuối năm 45 đầu 46, chính ông Hồ van nài các đảng đối lập “hợp tác tịnh thành với Việt Minh”, bây giờ chính ông triệt hạ họ một cách tàn bạo. “Ðoàn kết” thực tế là như vậy. Theo chủ trương che giấu sự thật lịch sử, bưng bít các hành động phản bội và phản quốc của mình, ông Hồ và đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ dám cho đăng lại toàn bộ nội dung các bản hiệp ước: hiệp ước sơ bộ 6/ 3/1946, thỏa hiệp án 14/9/1946. &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Bản chúng tôi có trong tay do báo Nam Kỳ, thân Pháp, không phải của Việt Minh ở Saigon, đăng lại. Ðiều nầy cũng giống như việc đảng cộng sản Việt Nam đã ký kết hai hiệp ước bán nước, dâng đất, lãnh hải cho Trung Cộng mới đây &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;Hứa Hoành &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;---&lt;br&gt;
link:&lt;br&gt;
&lt;a href="http://saigonxua.blog.ca/"&gt;http://saigonxua.blog.ca/&lt;/a&gt;
&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/tha_7887_a_hia_7879_p_14_9_1946_ha_7891_~1795146/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>politics</category><category>history</category><category>lichsu</category><category>vietnam</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/tha_7887_a_hia_7879_p_14_9_1946_ha_7891_~1795146/#comments</comments></item><item><title>SAI LẦM VÀ ẢO TUỞNG CỦA KARL MARX</title><link>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/sai_la_7846_m_va_a_7842_o_tua_7902_ng_ca~1795093/</link><guid isPermaLink="false">tag:lichsuvn.blog.co.uk,2007-02-24:/2007/02/24/sai_la_7846_m_va_a_7842_o_tua_7902_ng_ca~1795093/</guid><pubDate>Sat, 24 Feb 2007 01:00:48 +0100</pubDate><description>	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span&gt;NHỮNG LÝ LUẬN ĐƠN GIẢN, SAI LẦM VÀ ẢO TUỞNG CỦA KARL MARX CÙNG NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;Chu chi Nam&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt; &lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt; Cách đây cả bao ngàn năm, trong Kinh Thánh, có câu : » Nó tự ru ngu bằng những lý luận đơn giản, sai lầm và ảo tưởng.Nó tự khoác lên người một cái áo đạo đức giả ; nhưng bản chất đích thực của nó là gian manh, lừa đảo, ác ôn và côn đồ. Nó đã hạ thấp hình ảnh tốt đẹp và cao thượng của con người xuống hàng loài bò xát và rắn rết. »&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt; Suy ngẫm lý thuyết của Marx, việc làm của những chế độ cộng sản trong thế kỷ qua và của một vài chế độ còn lại trong thế kỷ nay, có người cho rằng câu Kinh Thánh trên, mặc dâu đã cách đây hàng ngàn năm, lại áp dụng đúng cho lý thuyết của Marx, cho việc làm và bản chất đích thực của người cộng sản. &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt; Có phải như thế không ?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt; &lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;I)&lt;span&gt;                   &lt;/span&gt;&lt;strong&gt;Những lý luận đơn giản, sai lầm và ảo tưởng của Marx&lt;/strong&gt;&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt;Thực vậy, Marx đã đơn giản hóa tối đa lý thuyết của mình, vì vậy nó trở nên sai lầm và ảo tưởng ; mặc dầu Marx tự nghĩ rằng lý thuyết của mình đúng và không ảo tưởng. Marx viết : «Những người cộng sản có thể tóm gọn lý thuyết của mình trong một câu duy nhất : bãi bỏ quyền tư hữu. » ( K. Marx &amp;ndash; Le manifeste du Parti communiste &amp;ndash; trang 36 &amp;ndash; Union générale d&amp;rsquo;Editions - Paris &amp;ndash; 1962).&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt;Đây là một câu nói vô cùng đơn giản mọi vấn đề, mọi sự việc. Marx viết câu này làm cho người ta có thể hiểu thêm là những gì Marx viết về triết học duy vật, về duy vật biện chứng, duy vật sử quan là phụ, không quan trọng, không cần cho người cộng sản, vì người cộng sản chỉ cần để trong đầu câu : «Bãi bỏ quyền tư hữu. »là đủ rồi. Trên thực tế là như vậy, Hồ chí Minh mà nhiều người cộng sản, nhất là cộng sản Việt Nam cho là «vĩ đạỉ », khi theo cộng sản còn chưa phân biệt nổi Đệ Nhị và Đệ Tam Quốc tế Cộng sản, như chính ông ta tự thú trong quyển Cuộc đời Hồ Chủ Tịch,tác giả là Trần dân Tiến, chính là ông. Và ngay dù ông có đọc Marx, thì với trình độ học chua qua khỏi lớp năm trường làng, thì làm sao hiểu nổi. Cách đây bốn năm, ông Lý thụy Hoàng, nhân vật thứ tư của Đảng Cộng sản Tàu lúc bấy giờ, có họp một số cán bộ cao cấp của đảng ở Quảng Đông. Ông có hỏi : Quí Vị ở đây có ai dọc hết Marx chưa, có ai hiêu lý thuyết của Marx không, thì không ai trả lời. Và ông không ngần ngại nói. Chính tôi cũng chẳng hiểu lý thuyết của Marx là gì cả.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Câu : « &lt;em&gt;Người cộng sản có thể tóm lược lý thuyết của mình trong câu duy nhất : bãi bỏ quyền tư hữu&lt;/em&gt;. » Câu này không những đơn giản mà còn sai lầm và ảo tưởng.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; &lt;strong&gt;Sai lầm ở chỗ quyền tư hữu không thể bãi bỏ mà chỉ có thể chuyển nhượng&lt;/strong&gt;. Xin quí Vị coi rõ vấn đề này trong bài của tôi : « &lt;strong&gt;Cách mạng tất yếu không xẩy ra ở những nước tư bản, mà cách mạng tất yếu đã xẩy ra và còn sẽ xẩy ra tại những nước cộng sản&lt;/strong&gt; » đăng trong những báo Việt Nam ở hải ngoại. Thật vậy, những người cộng sản đấu tranh chính trị và cướp quyền nhà nghề như Lénine, Mao trạch Đông, Hồ chí Minh, lợi dụng thời cơ, đảo chính cướp quyền, như Lénine lợi dụng tình thế xứ Nga vào cuối Đệ Nhất Thế Chiến, do Bộ Tham Mưu Đức đưa từ Thụy Sỹ về Nga đảo chính chánh quyền Kérenski, Hồ chí Minh do Đệ Tam quốc tế giúp đỡ, lợi dụng tình thế sau Đệ Nhị Thế Chiến, đảo chính chính quyền Trần trọng Kim, tất cả những chính quyền cộng sản Đông Âu là đều được dựng lên dưới gót giày của quân Đội Liên Sô thời đó. Chưa có một chính quyền cộng sản nào do người dân hay thợ thuyền bầu ra, mặc dầu họ tự nhân là đại diện giai cấp công nông. Một khi có được chính quyền, những người cộng sản bắt đầu áp dụng lý thuyết « đơn giản, sai lầm và ảo tưởng » của Marx, bằng cách đánh tư bản, mại sản, bảo rằng bãi bỏ quyền tư hữu, nhưng thực tế chỉ là chuyển nhượng quyền tư hữu. Quyền tư hữu đang ở tay đại đa số dân, nay qua những cuộc đánh tư bản mại sản, được chuyển nhượng qua tay những đảng đoàn, cán bộ cộng sản. Chẳng hạn tôi đang là chủ một ngôi nhà và một chiếc xe, nay đánh tư bản, mại sản, tôi phải bỏ nhà, bỏ xe. Nhưng ngôi nhà và cái xe vẫn còn đó và thuộc về một ông cán bộ, thì chỉ là chuyển nhượng thôi. Xã hội đùng một cái trở thành xã hội lưỡng cực, một bên thì đại đa số dân thì quá nghèo, một bên là thiểu số đảng đoàn cán bộ, nay trở thành những ông tư bản đỏ, thì quá giầu. Chính vì vậy mà cách mạng tất yếu đã xẩy ra tại những nước cộng sản, như ở Liên sô và Đông Âu và còn sẽ xẩy ra tại những nước cộng sản còn lại.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Ảo tưởng ở chỗ Marx cho rằng quyền tư hữu là nguyên do đưa đến việc xã hội chia thành giai cấp, và xã hội chia thành giai cấp nên mới có chính quyền, nhà nước, công cụ đàn áp của giai cấp nắm quyền. Nay bãi bỏ quyền tư hữu, tất nhiên giai cấp không còn nữa, và một khi giai cấp không còn nữa thì nhà nước tự biến mất hay tự «tắt » ( danh từ của Engels).&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Marx viết : « &lt;em&gt;Nếu sự đối kháng giai cấp biến mất, và nếu sự sản xuất ở trong tay những công dân liên đới, chính quyền sẽ mất ý nghĩa chính trị của nó. Quyền hành chính trị theo đúng nghĩa chỉ là quyền hành được tổ chức bởi một giai cấp để đàn áp một giai cấp khác. Nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư bản, qua một cuộc cách mạng, nó phá hủy bằng bạo lực chế độ sản xuất cũ, và một khi nó phá hủy chế độ sản xuất này, đồng thời nó phá hủy tất cả những điều kiện phân chia giai cấp, nó phá hủy giai cấp nói chung, và như vậy có nghĩa là nó phá hủy luôn cả sự thống trị của nó như một giai cấp&lt;/em&gt;. » ( Sách đã dẫn &amp;ndash; trang 46).&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Engels tiếp thêm sau khi người cộng sản nổi lên cướp chính quyền: « &lt;em&gt;Hành động đầu tiên trong đó nhà nước xuất hiện thực sự như đại diện cho toàn xã hội, - chiếm hữu những phương tiện sản xuất nhân danh xã hội &amp;ndash; hành động này cũng là hành động cuối cùng của nhà nước&amp;hellip;. Chính quyền của con người nhường chỗ cho sự quản trị các sự việc và cho sự điều hành những công tác sản xuất. Nhà nước không bị bãi bỏ, mà nhà nước tự tắt&lt;/em&gt; ( L&amp;rsquo;Etat n&amp;rsquo;est pas «abolỉ » , il s&amp;rsquo;éteint) ( Engels &amp;ndash; Socialisme utopique et socialisme scientifique &amp;ndash; trang 114 &amp;ndash; Editions sociales- Paris- 1969).&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Quả thật Marx và Engels đơn giản hóa, làm sai lạc và ảo tưởng tối đa ; mặc dầu tên đề quyển sách là Chủ nghĩa xã hội không tưởng và Chủ nghĩa xã hội khoa học.Không cần lý luận dài dòng. Mong quí Vị coi những bài tôi viết mang tựa đề Phê bình Marx trên phương diện triết học hay Sự hồ đồ của Marx theo K. Popper trên báo Việt Nam ở hải ngoại. Ở đây chúng ta chỉ nhìn thực tế cộng sản trong thời gian qua coi nhà nước có tự tắt không. Không, nhà nước cộng sản không tự tắt mà còn trở lên to lớn và đàn áp gấp cả trăm lần nhà nước tư bản. Nhà nước này không đại diện cho dân, cho giai cấp thợ thuyền như Marx và Engels ảo tưởng nghĩ, mà chỉ đại diện cho một thiểu thiểu số, đó là đảng đoàn, cán bộ, và chỉ có một mục đích duy nhất là kéo dài sự thống trị của mình bằng bất cứ giá nào. Đúng như lời của bà Rosa Luxemboug, bạn thân của Lénine, viết thư cho Lénine vào năm 1919, trước khi bà chết : « &lt;strong&gt;Nguyên tắc đầu tiên của xã hội xã hội chủ nghĩa là dân chủ. Đảng và Nhà nước độc đoán, độc tài mà anh thiết lập nên không những không phục vụ cho giai cấp công nông, mà chẳng phục vụ ai cả.&lt;/strong&gt; »&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Marx viết rằng : « &lt;em&gt;Phương pháp của tôi là phương pháp khoa học, trái với phương pháp của Hégel, vì nó đi từ cái gì cụ thể tới cái gì trừu tượng, đi từ cái gì đơn giản tới cái gì phức tạp&lt;/em&gt;. » Trên thực tế Marx đi hoàn toàn ngược lai, đi từ cái gì trừu tượng nhất, đi từ một lời tiên tri, một ảo tưởng xây dựng một xã hội thiên đàng cộng sản, sau đó Marx bẻ cong tất cả những lý luận của mình, những công trình nghiên cứu khoa học, như của Darwin, để cho đi đúng với lời tiên tri của mình.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Thật vậy, Marx là gốc người Do Thái, cụ thân sinh của Marx là một vị mục sư. Mặc dầu Marx không nói ra, nhưng Marx bị ảnh hưởng xâu đậm bởi tư tưởng Do Thái-Thiên Chúa giáo, theo đó, con người đang sống trên địa đàng, nhưng vì con người ăn phải trái cấm, nên bị đày xuống trần gian, con người phải chịu sự đày đọa cho tới khi có một Đấng Cứu Thế xuống cứu con người. Marx đã lấy tư tưởng này, nhưng thay đổi, thay vì là địa đàng thì Marx thay thế bằng xã hội cộng sản nguyên thủy, thay vì là trái cấm, thì Marx đổi thành quyền tư hữu, thay vì là Đấng Cứu Thế, thì Marx thay thế bằng giai cấp vô sản. Tư tưởng của Marx trở thành : con người đang sống sung sướng ở địa đàng xã hội cộng sản nguyên thủy, không có giai cấp vì không có quyền tư hữu ; rồi con người ăn phải trái cấm, đó là quyền tư hữu ; con người bị đọa đày, vì phải sống trong xã hội có quyền tư hữu đưa đến phân chia giai cấp. Sự đọa đày của con người sẽ được cứu thóat khi giai cấp công nhân đứng lên làm cach mạng, xóa bỏ quyền tư hữu, nguyên do của mọi đau khổ của con người, nguyên do của việc xã hội trở thành giai cấp ; và một khi quyền tư hữu bị bãi bỏ, thì giai cấp cũng tự bị bãi bỏ,đưa con người trở lại xã hội cộng sản, thiên đàng cũ. Quả là ảo tưởng và không có một tý gì là khoa học. Những ai còn tin tư tưởng của Marx là khoa học, thì thật là không tưởng. Xin nghĩ lại. Quí Vị muốn rõ về tính chất không tưởng của Marx, xin xem thêm bài Sự không tưởng của Marx và Sự hồ đồ của Marx trên lãnh vưc khoa học theo K. Popper của tôi trên báo chí của Cộng Đồng Việt Nam ở hải ngoại.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Chúng ta nên nhớ, cuối đời, Marx không còn tin tưởng ở lý thuyết của mình nên nói câu : « &lt;em&gt;&lt;strong&gt;Tôi không còn theo chủ nghĩa của Marx nữả&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt; ( Je ne suis plus marxiste). Và một trong những người con gái của ông, bỏ lý thuyết của bố, và trở về đi theo đạo Do Thái giáo của ông bà, tổ tiên.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt;&lt;/span&gt; &lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;I I ) &lt;strong&gt;Marx và Engels đã hạ thấp hình ảnh tốt đẹp và cao thượng của con người xuống hàng bò xát, rắn rết&lt;/strong&gt;&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt;Engels viết : « &lt;em&gt;Thiên nhiên là viên đá thử vàng của biện chứng pháp và phải nói rằng khoa học thiên nhiên hiện đại đã cống hiến cho những thử thách này những vật liệu vô cùng quí giá và mỗi ngày một phong phú ; khoa học đã chứng tỏ rằng thiên nhiên cuối cùng ( en dernière intance) đã biến chuyển theo phương pháp biện chứng chứ không theo phương pháp siêu hình, nó không biến chuyển theo một chu kỳ lập lại như nhau, mà nó có một lịch sử thật sự. Về điểm này, trước tiên chúng ta phải nhắc tới Darwin, người đã dáng một đòn nặng nề cho quan niệm siêu hình về thiên nhiên, bằng cách chứng minh rằng toàn thể thế giới hữu cơ, như nó hiện hữu ngày hôm nay, chảng hạn như cây cỏ, động vật, tất nhiên trong đó có con người, chỉ là sản phẩm của một tiến trình phát triển có từ bao triệu năm&lt;/em&gt;. « ( Engels dẫn bởi Staline trong quyển Les Questions du Léninisme &amp;ndash; tombe 2 &amp;ndash; trang 788 &amp;ndash; Edition : Norman Béthume &amp;ndash; 1969).&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt;Engels viết tiếp : « &lt;em&gt;Toàn thể thiên nhiên, từ những phần nhỏ nhất tới những phần to nhất, từ hạt cát cho tới mặt trời, từ chất protiste ( tế bào sống đầu tiên) cho tới con người, đều đi vào một tiến trình vô tận xuất hiện và biến mất, trong một sự di chuyển và thay đổi không ngừng.&lt;/em&gt; » ( Engels dẫn bởi Staline trong cùng quyển sách &amp;ndash; cùng trang)&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Ở đây tôi xin trình bày 2 vấn đề : &lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;1) Thiên nhiên biến đổi theo phương pháp biện chứng như Marx v à Engels viết ; &lt;br&gt;2) Vấn đề Marx và Engels dẫn chứng Darwin.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Thiên nhiên, theo Marx và Engels định nghĩa, là những phần tử nhỏ nhất tới những phần tử lớn nhất, từ hạt cát cho tới mặt trời, từ chất protiste cho tới con người, đều biến chuyển theo phép biện chứng là biến chuyển thế nào ? Phép biện chứng là Đề - Phản Đề - Tổng Đề.. Theo Hégel của trường phái duy ý ( l&amp;rsquo;idéalisme), thầy của Marx, thì ý tưởng con người biến chuyển theo phép biện chứng ; có nghĩa là tôi có một ý A, tôi trao đổi với người khác, tôi gặp ý kiến B phản bác lại A. Hai ý kiến gặp nhau, đối chọi nhau, làm thành ý tổng hợp C. Ý tổng hợp này lại trở thành đề, lại trao đổi và cứ như vậy tiến triển làm cho ý kiến con người đi từ chủ quan tới khách quan. Nay Marx, của trường phái duy vật (le matérialisme), bảo triết lý của Hégel đi ngược đầu, lấy đầu làm chân và lấy chân làm đầu, đem phương pháp biện chứng áp dụng vào vật chất, bảo rằng thiên nhiên, vật chất biến chuyển theo biện chứng là biến chuyển thế nào. Thiên nhiên theo mắt thường thấy là là hạt cát, viên sỏi, mặt trăng, mặt trời, con người, con vật. Vậy bảo thiên nhiên, vật chất biến chuyển theo biện chứng là biến chuyển làm sao, cái gì là đề, hạt cát chăng, con người chăng ; cái gì là phản đề, mặt trăng chăng, con vật chăng ; cái gì là tổng đề, mặt trời chăng. Một sự vô lý vô cùng. Nếu bảo thiên nhiên đây là vật chất ( la matière), nhìn theo mắt khoa học, thì trước năm 1913, vào thời Thương Cổ, theo Démocrite (460-370), triết gia duy vật Hy Lạp, thì vật chất là cái gì nhỏ nhất, không thể phân chia được. Nếu là cái gì nhỏ nhất không thể phân chia được, thì đâu còn cái gì là đề, cái gì là phản đề và cái gì là tổng để, để biến chuyển theo phương pháp biện chứng, như Marx nói. Đợi đến năm 1913, hai nhà bác học Bohr và Sommerfeld mới phát minh ra thuyết nguyên tử, theo đó vật chất, theo con mắt khoa học là nguyên tử, gồm potron, neutron và électron. Nếu bảo vật chất là nguyên tử, biên chuyển theo biện chứng, là biến chuyển thế nào. Phải chăng potron là đề, électron là phản đề và neutron là tổng đề. Câu hỏi này, ngay cả những nhà duy vật sau Marx cũng không có câu trả lời.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Marx và Engels đã dùng những kết quả của khoa học, rồi lái sang triết học, đưa ra những quyết đoán thiếu khiêm nhượng, thiếu căn bản khoa học. Xin xem bài Sự hồ đồ của Marx theo K. Popper của tôi đăng trên những báo Việt Nam ở hải ngoại. &lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Đọc Darwin người ta thấy gì ? Theo ông, sự biến hóa của những sinh vật xẩy ra một cách rất tình cờ, máy móc, chứ không theo một tiến trình nào cả, và càng không phải là tiến trình biện chứng như Marx và Engels nói. Về sự tranh đấu để sống còn, người ta không thấy sự cộng hưởng hay sự đối lập của 2 chủ thể, của 2 sinh vật để sinh ra một sinh vật khác, ở mức độ tiến hóa cao hơn, như luật biện chứng qui định, mà người ta chỉ thấy hiện tượng cá lớn nuốt cá bé, con vật mạnh ăn con vật yếu, một sự đấu tranh sống còn tự nhiên như đề quyển sách chính của Darwin, Nguồn gốc của các sinh vật, bởi sự sinh tồn tự nhiên ( De l&amp;rsquo;Origine des espèces , par voie de sélection naturelle &amp;ndash; 1859). Người ta không thấy Darwin nói gì đến biện chứng.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Ngay cả giả thuyết cho rằng con người sinh ra từ một chuỗi biến hóa, từ đơn bào qua đa bào, đến loài cá, loài bò sát, rắn rết, đến loài có vú, loài khỉ, rồi cuối cùng tới loài người. Vấn đề này, ngay ngày hôm nay còn có rất nhiều sự tranh cãi giữa những nhà khoa học. Gần đây, qua những nghiên cứu về ADN, các nhà bác học đã nhận thấy có sự giống nhau giữa ADN con người và con khỉ Chimpamzé đến 99,98%, chỉ có 0,02% là khác ; nhưng họ cũng không dám quả quyết là con người do con khỉ Chimpamzé sinh ra ; thứ nhất vì họ chỉ nghiên cứu sự khác biệt và sự giống nhau về ADN của 2 sinh vật, chứ họ không nghiên cứu về nguồn gốc con người ; thứ nhì vì con nhiều yếu tố ngoại cảnh họ không nắm vững ; thứ ba về phần khác biệt, họ cũng không nắm vững, biết đâu đó là phần chính, đấy là lời tuyên bố của những nhà khoa học về vấn đề này. Trong khi đó thì một số lãnh đạo và trí thức cộng sản Việt Nam, học hành chẳng đi tới đâu cả, chẳng phải là bác học, mà cứ cho rằng đó là những chân lý khoa học hiển nhiên và vĩnh cửu. Tệ hơn nữa, vì là họ có quyền, họ còn bắt những người khác phải tin theo, nếu không thì bị bỏ tù.. Theo Encyclopédie Universalis thì : «Vấn đề vượn trở thành người vẫn còn là một đề tài tranh cãi nóng bỏng » ( Le passage des grands singes à l&amp;rsquo;Homme est toujours le sujet d&amp;rsquo;un débat brûlant &amp;ndash; Encyclopédie Universalis &amp;ndash; tombe 18 &amp;ndash; trang 1994 &amp;ndash; năm 2005). Đấy là giả thuyết từ khỉ qua người, với nhiều dấu vết lịch sử tìm thấy ở những nước Ethiopie, Ouganda, Kénya ; nhưng những nhà khoa học thực sự họ còn rất thận trong, nói chi đến giả thuyết cho rằng loài cá biến thành loài bò sát, rồi biến thành loài có vú. Vấn đề này không có một dấu vết lịch sử nào cả. Tất cả những sự quyết đóan chỉ là hồ đồ, vội vã, không có một tý gì là khoa học.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt;&lt;/span&gt; &lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;I I I ) &lt;strong&gt;Người cộng sản đã tự khoác trên mình một chiếc áo đạo đức giả ; nhưng bản chất đích thực của họ là gian manh, lừa đảo và ác ôn, côn đồ&lt;/strong&gt;.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Lý thuyết của Marx không những đơn giản hóa vấn đề, sai lầm và ảo tưởng, mà nó còn chủ trương bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, phá hủy tôn giáo, phá hủy truyền thống quốc gia dân tộc, hàng rào luân lý, đạo đức cổ truyền, nên nó đã mang trong người của nó tất cả mầm mống của tội ác ( Xin xem thêm bài của tác giả Tư tưởng của Marx phản văn hóa, phản văn minh, đăng trên &lt;u&gt;&lt;span&gt;&lt;a href="http://anhduong.net/"&gt;&lt;a href="http://anhduong.net"&gt;http://anhduong.net&lt;/a&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/u&gt;, &lt;u&gt;&lt;span&gt;&lt;a href="http://www.danchu.net/"&gt;&lt;a href="http://www.danchu.net"&gt;http://www.danchu.net&lt;/a&gt;&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;/u&gt;, &lt;a href="http://vietland.net/"&gt;&lt;a href="http://vietland.net"&gt;http://vietland.net&lt;/a&gt;&lt;/a&gt; , &lt;a href="http://chuchinam.tripod.com/"&gt;&lt;a href="http://chuchinam.tripod.com/"&gt;http://chuchinam.tripod.com/&lt;/a&gt;&lt;/a&gt; , &lt;a href="http://www.nghiencuulichsu.net.ms/"&gt;&lt;a href="http://www.nghiencuulichsu.net.ms/"&gt;http://www.nghiencuulichsu.net.ms/&lt;/a&gt;&lt;/a&gt;  và một số báo Việt Nam ở hải ngọai). Lý thuyết với đầy những mầm mống tội ác này lại cómôi trường thuận tiện để phát triển. Đó là thời kỳ đầu và giữa thế kỳ XX, tại 3 nước Nga Sô, Trung Cộng và Việt Nam. Trong 3 nước này, một số trí thức tả đã tự nguyện đi theo lý thuyết Marx, và tìm bất cứ cách nào để cướp chính quyền, thực hiện lý thuyết đầy mầm mống tội ác này. Trái hẳn với những nước Đông Âu, chế độ cộng sản được dựng lên dưới gót giày quân đội chiếm đóng Liên Sô sau Đệ Nhị Thế Chiến.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt; Thực vậy, lý thuyết Marx chủ trương chống tư bản, trong khi đó 3 nước Nga, Tàu và Việt Nam đang là nạn nhân hay bị hạ nhục bởi tư bản. Nga Sô thua cuộc chiến 1895 với Anh và Pháp, rồi thua cuộc chiến với Nhật 1905. Tàu thì vào giữa thế kỷ 19 bị liệt cường xâu xé. Việt Nam thì bị lệ thuộc Pháp. Hơn thế nữa, 3 nước này lại có truyền thống văn hóa cao, một số trí thức tả nghĩ rằng nay nhập cảng lý thuyết Marx, vừa chống tư bản, vừa được gọi là khoa học, thì không những bắt kịp những nước tư bản về khoa học kỹ thuật, mà còn không thua về văn hóa. Có thể nói những con người như &lt;strong&gt;Lénine, Mao trạch Đông và một số trí thức tả không đủ trình độ để hiểu tính chất không khoa học và những sai lầm của lý thuyết Marx, nói chi đến Hồ chí Minh của Việt Nam khi đi theo cộng sản còn chưa ở trình độ phân biệt nổi Đệ Nhị và Đệ Tam Quốc tế Cộng sản&lt;/strong&gt;. Xin quí Vị xem thêm bài Lý thuyết của Marx là thần dược hay độc dược, Sự thất bại của Cách mạng cộng sản của tôi.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Tây phương có câu trâm ngôn : « &lt;strong&gt;Con người là nửa thần thánh và nửa xúc vật&lt;/strong&gt; ». Nếu con người sống trong một môi trường mà không có luật pháp ngăn chặn phần xúc vật, và không có đạo giáo, truyền thóng luân lý, đạo đức được đề cao, khuyến khích phần thần thánh, thì phần xúc vật của con người sẽ nổi lên ngự trị, dù con người đó là có học hay không có học, dù là giai cấp quí tộc hay giai cấp nào chăng nữa. Lý thuyết Marx mang đầy mầm mống tội ác, chế độ cộng sản là một môi trường thuận lợi cho tội ác nẩy mầm và phát triển. Vì vậy &lt;strong&gt;người cộng sản đã trở thành loài sâu bọ, rắn rết độc ác, loài quỉ ; mặc dầu nó khoác vào nó hai chiếc áo, hai mặt nạ quốc gia dân tộc và xã hội chủ nghĩa&lt;/strong&gt;. &lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Chúng ta chỉ cần nhìn hiện trạng Việt Nam hiện nay thì chúng ta thấy: cộng sản không có một tý gì là quốc gia dân tộc và xã hội chủ nghĩa như chúng đã từng và hiện còn rêu rao.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Quốc gia dân tộc gì mà dâng đất nhượng biển cho Trung Cộng, qụy lụy ngoại bang. &lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Xã hội chủ nghĩa gì mà xã hội đầy bất công, người dân không có đến 1$ một ngày để sống ; 70% dân Việt hiện nay khi bệnh không dám đi bác sĩ, nhất là đi nhà thương vì không có tiền ; trong khi đó thì đảng doàn cán bộ tiêu tiền vứt qua của sổ, đánh cá độ cả triệu $.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt; Tôi xin dẫn chứng ở đây lời những người cựu cộng sản nói về người cộng sản, vì chính họ mới hiểu người cộng sản, chính họ nằm trong chăn, mới biết chăn có rận.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Ông &lt;strong&gt;Gorbatchev&lt;/strong&gt;, cựu Tổng Bí Thư Cộng sản Liên Sô : « Tôi đã bỏ hơn nửa cuộc đời theo lý tưởng cộng sản. Nhưng ngày hôm nay tôi phải đau buồn nói rằng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo. »&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Ông &lt;strong&gt;Yakolek&lt;/strong&gt;, cựu Ủy viên Bộ Chính Trị Liên sô, vừa mới chết : « Cộng sản là loài xâu bọ, rắn rết. Con trẻ nằm lên xác con gìà. Con già đè lên xác con trẻ. Nhưng trong đó có một con khỏe nhất, leo lên được chỗ cao nhất ; và trước khi leo lên được chỗ cao nhất, thì nó đã phải dẵm lên xác không biết bao con khác. »&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Ông Lê xuân Tá, cựu Phó Trưởng Ban Khoa học và Kỹ thuật Đảng Cộng sản Việt Nam : « Sự ngu dốt và sự thấp hèn tự nó không đáng trách và không làm nên tội ác. Nhưng sự ngu dốt và sự thấp hèn mà được trao quyền lực, và được cấy vào vi trùng ghen tỵ, thì nó trở thành quỉ nhập tràng. Và con quỉ này, nó ý thức mau lẹ rằng cái đe dọa quyền và lợi của nó, chính là sự hiểu biết, trí thức, văn hóa và văn minh. Nên nó đã đánh những thứ này dã man, tàn bạo không thương tiếc. Nhưng chính vì ngu dốt và thâp hèn, nên những thứ này đã trở thành sỏi mật, sạn thận, sơ gan, cổ chướng trong ngục phủ, ngũ tạng của chế độ cộng sản, làm cho chế độ này không ai đánh mà tự chết. »&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; Bà Dương thu Hương, nhà văn, lúc trẻ đi theo cộng sản, nay hồi tỉnh : « &lt;strong&gt;Dân Việt Nam dầu có mù chữ chăng nữa, cũng thấy mặt giới lãnh đạo cộng sản vừa tối tăn, ngu đốt, vừa ác ôn, côn đồ và hèn hạ&lt;/strong&gt;. »&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt; &lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt; Quả thật lý thuyết của Marx vừa đơn giản, sai lầm và vừa ảo tưởng ; con người cộng sản vừa rắn rết, bọ xát, vừa quỉ quái ; đúng như câu Kinh Thánh :&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt; « &lt;strong&gt;Nó đã tự ru ngủ bằng những lý luận đơn giản, sai lầm và ảo tưởng. Nó tự khoác lên người một cái áo đạo đức giả ; nhưng bản chất đích thực của nó là gian manh, lứa đảo, ác ôn, côn đồ. Nó đã hạ thấp hình ảnh tốt đẹp và cao thượng của con người xuống hàng loài bò xát, rắn rết.&lt;/strong&gt; « &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt; &lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt; Có lẽ trong lịch sử nhân loại, chưa có một lý thuyết nào có tham vọng, nhưng lại đơn giản hóa, sai lầm và ảo tưởng như lý thuyết của Marx. Chính vì vậy mà khi áp dụng lý thuyết này, những chế độ cộng sản đã giết đến cả hơn 100 triệu người. Lịch sử nhân loại đã có nhiều trang lịch sử đẫm máu ; nhưng chưa có trang nào đẫm máu bằng trang sử cộng sản. Dân tộc Nga Sô, Đông Âu đã lật qua những trang sử này, chỉ còn những nước như Việt Nam, Trung Cộng, Bắc Hàn và Cuba, vì giới lãnh đạo và một số trí thức bênh vực chế độ, hoặc vì quá ngu độn không ý thức nổi tính chất đơn giản hóa, sai lầm và ảo tưởng của lý thuyết Marx, vẫn cho rằng « &lt;em&gt;lý thuyết Mác Lê là nên tảng của chế độ&lt;/em&gt; « như theo Hiến Pháp Việt Nam 1992, hay « kiên trì xã hội chủ nghĩa « như Nông đức Mạnh, Nguyễn khoa Điềm tuyên bố ; hoặc hiểu, nhưng &lt;strong&gt;vì quyền lợi cá nhân và bè phái&lt;/strong&gt;, nên mới có thái độ như vậy. Lý thuyết Mác Lê và giới lãnh đạo cộng sản quả thật là một đại họa cho dân tộc Việt Nam. &lt;strong&gt;Dân Việt chỉ còn một cách là can đảm đứng lên đấu tranh vứt bỏ lý thuyết này và lật đổ bạo quyền cộng sản, hại dân, bán nước, vì bất cứ một cuộc cứu rỗi nào cũng bắt đầu bằng cuộc tự cứu&lt;/strong&gt; ./.&lt;br&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt;&lt;br&gt;Paris ngày 31/03/2006&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p class="MsoNormal"&gt;&lt;span&gt; Chu chi Nam&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;____________&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;a href="http://vuhuusan.com/"&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://vuhuusan.com"&gt;http://vuhuusan.com&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/a&gt;&lt;strong&gt;, &lt;/strong&gt;&lt;a href="http://v/"&gt;&lt;strong&gt;&lt;a href="http://vuhuusan,net"&gt;http://vuhuusan,net&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/a&gt;&lt;strong&gt;, &lt;a href="http://members.tripod.com/luotsong/"&gt;&lt;a href="http://members.tripod.com/luotsong/"&gt;http://members.tripod.com/luotsong/&lt;/a&gt;&lt;/a&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
	&lt;p&gt;&lt;a href="http://anhduong.net"&gt;http://anhduong.net&lt;/a&gt; , &lt;a href="http://www.danchu.net,"&gt;http://www.danchu.net,&lt;/a&gt; &lt;a href="http://vietland.net"&gt;http://vietland.net&lt;/a&gt; , &lt;a href="http://chuchinam.tripod.com/"&gt;http://chuchinam.tripod.com/&lt;/a&gt; , &lt;a href="http://www.nghiencuulichsu.net.ms/"&gt;http://www.nghiencuulichsu.net.ms/&lt;/a&gt; ,&lt;br&gt;
&lt;a href="http://saigonxua.blog.ca/"&gt;http://saigonxua.blog.ca/&lt;/a&gt;
&lt;/p&gt;
&lt;p&gt; &lt;small&gt; &lt;a href="http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/sai_la_7846_m_va_a_7842_o_tua_7902_ng_ca~1795093/#comments"&gt;Comments&lt;/a&gt; &lt;/small&gt; &lt;/p&gt;</description><category>lichsu</category><category>vuhuusan</category><category>chinam</category><category>politics</category><comments>http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/02/24/sai_la_7846_m_va_a_7842_o_tua_7902_ng_ca~1795093/#comments</comments></item></channel></rss>
