Search blog.co.uk

  • Tra loi Hoang Tung (tiep)

    Trí nhớ ngắn ở chỗ là Hồ chí Minh không bao giờ tự nhận ḿnh là nhà tư tưỏng. Theo ông Nguyễn văn Trấn, người đă có dịp tiếp xúc với Hồ chí Minh, th́ họ Hồ thường nói câu : « Tôi không có tư tưởng ǵ cả. Tôi chỉ là người thực tiễn. Lạt mềm buộc chặt. » ( Nguyễn văn Trấn - Viết cho mẹ và quốc hội ). Vào năm 1920, khi họp hội nghị Tours ở Pháp, Hồ chí Minh c̣n chưa ở tŕnh độ phân biệt nổi Đệ Nhị và Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản, điều này do chính Hồ chí Minh viết trong quyển « Cuộc đời Hồ Chủ tịch » tác giả là Trần dân Tiên, chính là Hồ chí Minh.. Khi đảng cộng sản Việt Nam họp Đại Hội lần thứ Nh́, vào năm 1950,có một kư giả hỏi ông là ông có tư tưởng ǵ không, th́ ông trả lời là ông không có tư tưởng ǵ cả, đă có Staline và Mao nghĩ hộ. Ông c̣n thêm là 2 người này không bao giờ sai lầm. Vào năm 1960, tờ báo Nga Sô « Le Pravda » phỏng vấn ông, th́ ông cũng nhắc lại là ông đă có Marx và Lénine nghĩ hộ. Thế mà ông Hoàng Tùng cùng một số trí thức Việt Nam không nhớ những sự kiện này, mà c̣n đưa Hồ chí Minh lên nhà tư tưởng. Không những vậy, mà c̣n ghi trong Hiến pháp hiện hành : « Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lénin và tư tưởng Hồ chí Minh, là lực lượng lănh đạo Nhà nước và xă hộỉ « (điều 4), sự kiện này chứng tỏ đảng cộng sản Việt Nam và một số trí thức cộng sản không ở tŕnh độ để hiểu định nghĩa thế nào là tư tưởng, là nhà tư tưởng.

    Để hiểu rơ vấn đề, tôi xin mạo muội nói sơ về sự h́nh thành một tư tưởng. Tư tưởng ( la pensée) có được là do nhiều ư tưởng (l’idée) hợp lư và ăn khớp với nhau ( logiques và cohérentes) làm thành. Ư tưởng có được là do nhiều tri giác ( la perception ) hợp lư và ăn khớp với nhau làm nên. Tri giác có được là nhờ ở năm giác quan của chúng ta ( thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và thính giác ). Chẳng hạn ư niệm hay ư tưởng mà chúng ta có về một trái cam, đó là chúng ta thấy nó tṛn tṛn, màu vàng đỏ ; khi bóc nó ra chúng ta thấy những cái múi nhỏ ; khi nếm, chúng ta thấy vị hơi chua chua, ng̣n ngọt ; khi ngửi chúng ta thấy mùi vị thơm thơm. Tất cả những tri giác này tạo cho chúng ta một ư niệm, ư tưởng vế trái cam.. Nhiều tri giác về nhiều vấn đề cho ta nhiều ư tưởng khác nhau. Nhiều ư tưởng về một vấn đề , mà có tính cách hữu lư, ăn khớp với nhau, đồng thời có tính cách mới lạ,và xâu rộng, do một công tŕnh nghiên cứu, th́ lúc đó trở thành tư tưởng. Nhiều tư tưởng về nhiều vấn đề, về cuộc sống, về con người, về không gian, thời gian, và có những đặc tính trên, th́ trở thành hệ tư tưởng ( l’idéologie).

    Chẳng hạn như về kinh tế học, ông A. Senn, giải Nobel Kinh Tế năm 1998, th́ được gọi là nhà tư tưởng kinh tế. Nhưng tại sao ? – V́ ông đă quan sát và thấy rằng có một liên hệ giữa nạn chậm tiến, nạn đói với những chế độ độc tài. Từ ư niệm, ư tưởng đó, ông đă bỏ công ra nghiên cứu những nạn đói và nạn chậm tiến ở những nước Á phi chậm tiến trong ṿng nửa thế kỷ qua. Cuối cùng ông đi đến kết luận « Không có dân chủ thực sự th́ không có một nền kinh tế tốt ( Amartya Senn - Pas de bonne économie sans vraie démocratie. – báo Le Monde, số ngày 28/10/1998). Công tŕnh nghiên cứu này đă đưa ông đến giải thưởng Nobel, ông được coi như một nhà tư tưởng kinh tế.

    Tư tưởng và nhà tư tưởng là như vậy. Hồ chí Minh chỉ nhắc lại những ư tưởng của tiền nhân, không có một công tŕnh nghiên cứu xâu xa ; rồi con cháu về sau cho đó là của ông ; mặc dầu chính ông khi c̣n sống, ông thường nhắc đi nhắc lại là ông không có tư tưởng ǵ cả, th́ không thể nào là nhà tư tưởng. Ngay cả Bản Lên Án Thực Dân bằng tiế ng Pháp ( Le Procès du Colonialisme) mà Hồ chi Minh đă đưa cho Ban Thơ Kư Hội Nghị Versailles họp vào tháng 6 /1919 giữa những Cường Quốc thắng trận Đệ Nhất Thế Chiến, mà một số người cộng sản cho rằng ông ta là tác giả , là hoàn toàn sai. Theo một số sử gia, th́ đó là cụ Phan chu Trinh, Nguyễn thế Truyền, Phan văn Trường viết chung.Chúng ta chỉ cần có một sự suy nghĩ nhỏ là thấy rơ :

    Trong quyển Cuộc Đời Chủ tịch Hồ chí Minh, tác giả Trần dân Tiên chính là Hồ chi Minh, ông nói rơ trong Hội Nghị Tours họp vào tháng 12/1920, ông nghe tiếng Pháp chữ được chữ không, ông không thể phân biệt nổi Đệ Nhị và Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản, thế mà 18 tháng trước đó ( tháng 6/1919 - Hội Nghi Varsailles), ông lại là tác giả Bản Lên Án Thực Dân viết bằng tiếng Pháp ( Le Procès du Colonialisme). Có phải những người cho ông là tác giả đă lầm, thiếu suy nghĩ hay không ? Những câu : « Cần, kiệm, liêm, chính » , « Chí công, vô tư « v.v… là những câu mà các cụ xưa thường dậy con cháu, cũng chẳng phải là của Hồ chí Minh, thế mà đảng cộng sản Việt Nam cho là của Hồ chí Minh, có phải là nhận quàng không ?

    Trở về việc phê b́nh bài « Thời Đại Mới, Tư Tưởng Mớỉ « của ông Hoàng Tùng. Khi phê b́nh một bài văn, th́ chúng ta cũng phải nh́n cả cái sai, lẫn cái đúng. Nhưng ở bài này có quá nhiều điều sai. Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là không có điều đúng. Đó là một vài câu như :

    « Từ khi nắm quyền lănh đạo đất nước, các đảng (đảng cộng sản- lời chú của tác gỉả bài này) trở thành chuyên quyền, người lănh đạo tuyệt đối. Về danh nghĩa th́ nói rằng đảng của giai cấp công nhân, của toàn Đảng, trong thực tế th́ người đứng đầu nắm mọi quyền lực, thông qua tổ chức thực hành mọi quyết định. » ( trang 24/33, ḍng 22), hay :

    « Nói rằng, trong xă hội thường xuyên có sự nhất trí về chính trị và tư tưởng là không đúng sự thật, sự im lặng kéo dài, cuối cùng bỏ mặc cho chủ nghĩa xă hội tan ră, người ta bỏ phiếu bằng đôi chân lũ lượt chạy sang các nước tư bản để làm những việc thấp kém, có khi mất cả phẩm giá con người. » ( trang 25/33, ḍng 21), hoặc :

    « Khi tiếp xúc với các nhà trí thức thuộc phía bên kia ( phía tư bản- lời chú của tác giả bài này ), những người bên này ( bên cộng sản) thường tỏ thái độ trịch thượng, thầy đời, lời dài, ư hẹp « ( trang 22 /33, cuối trang).

    Tôi nghĩ câu cuối này nên được áp dụng đầu tiên cho ông Hoàng Tùng, tác giả của bài « Thời Đại Mới, Tư Tưởng Mớỉ », người mà một số người cộng sản đưa lên hàng « một trong những nhà lư luận tư tưởng Mác Lê hàng đầu Việt Nam. »

    Việt Nam ta có câu : « Mèo khen mèo dài đuôi ». Ông Hoàng Tùng và đảng Cộng sản Việt Nam đưa Hồ chí Minh lên nhà tư tưởng. Một số người khác đưa ông Hoàng Tùng lên hàng một trong những nhà lư luận tư tưởng Mác Lê hàng đầu Việt Nam. Đây cũng là lẽ thường t́nh, v́ « Mẹ hát, con khen hay. « . Nhưng Hồ chí Minh và ông Hoàng Tùng chỉ là nhà tư tưởng và nhà lư luận đối với những người cộng sản hay thân cộng sản. Chứ dân Việt, theo thiển ư của tôi, không chấp nhận và sẽ không bao giờ chấp nhận Hồ chí Minh là nhà tư tưởng và ông Hoàng Tùng là nhà lư luận .

    Ba lê ngày 13/07/2005

    Chu chi Nam

  • UNESCO không ra quyết-nghị "Hồ-chí-Minh là nhà văn-hoá"

    UNESCO không ra quyết-nghị «Hồ-chí-Minh là nhà văn-hoá»

    Tài Liệu Sưu Tầm -Chu chi Nam

    Tài liệu đưọc viết theo Font Unicode Times New Roman

    Nhắc lại một chuyện cũ của năm 90 để trả lời một số e-mail từ Việt-Nam gởi ra.

    · Lễ kỷ-niệm 100 năm sanh-nhật của Hồ-chí-Minh do sứ quán Hà-Nội tại Paris thuê pḥng của UNESCO và tổ-chức.

    Mười năm sau, báo An-ninh thế-giới (số 177) xuất-bản tại Hà-Nội, cho đăng một bài với tựa đề : « Bảo vệ lễ kỷ-niệm 100 năm ngày sinh của Bác Hồ ở trụ sở UNESCO ( Pháp ) ».

    Tại sao « bảo vệ » ? Nếu lễ sinh-nhật 100 năm của Hồ-chí-Minh được UNESCO tổ-chức th́ phía Hà-Nội không cần phải bảo vệ, bởi vấn-đề an ninh đă được UNESCO đảm trách.

    Phải « bảo-vệ » như lời tựa của bài báo viết ( báo công-an ) v́ buổi lễ kỷ-niệm ấy đă thật sự không được UNESCO tổ chức, mà hoàn-toàn do Ṭa Đại-sứ Hà-Nội tại Paris tự tổ-chức lấy.

    Diển tiến sự việc :

    Năm 1987 Đại hội đồng UNESCO đă chấp thuận một quyết-nghị tổ chức lễ sinh-nhật của Hồ-chí-Minh như là một danh-nhân thế-giới ( Nhà giải phóng dân-tộc, nhà văn-hóa ). Theo quyết nghị nầy, UNESCO sẽ trợ cấp cho Hà-Nội một ngân khoảng để ấn-hành tranh ảnh, sách báo nói về sự nghiệp văn-hóa và giải-phóng của Hồ-chí-Minh. Riêng UNESCO tại Paris cũng sẽ tổ-chức lễ kỹ-niệm tại trụ sở với sự tham dự của Ban lảnh đạo UNESCO, đại diện chánh-phủ Pháp và thị-xả Paris.

    Sở dỉ quyết nghị nầy được thông qua dể-dàng ở Đại-hội-đồng UNESCO v́ ông M’BOW, người Phi-Châu đen, làm Tổng-Giám-Đốc UNESCO có xu-hướng thân cộng-sản đă tích cực vận động các thành viên trong UNESCO THÔNG QUA QUYẾT nghị. Ngay khi Quyết-Nghị được phổ biến, cộng đồng người Việt tại Paris liền lập tức hợp nhau lại t́m phương cách phản đối UNESCO.

    Một tổ chức thành h́nh mang danh xưng là Ủy ban tố cáo tội ác Hồ-chí-Minh gồm Tổng-thư-kư và nhiều ủy viên. Ông Nguyễn-văn-Trần được các thân hữu ủy nhiệm làm Tổng-thư-kư với sự hợp tác trợ lực tích cực của các ông Trần-văn-Ngô, Chu-vũ-Hoan, Nguyễn-thừa-Thính, Nghiêm-văn-Thạch, Vũ-Hạ,… Ủy ban tiến hành vận động kiều bào ở khắp nơi : Hoa-Kỳ, Úc, Canada và Âu-Châu viết thơ cho UNESCO phản đối Quyết-Nghị sai lầm kia và vạch trần tội ác của Hồ-chí-Minh từ khi nắm chánh quyền ở Hà-Nội và tội ác của chế độ qua các biến cố cụ thể như vụ Nhân-văn giai-phẩm, cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, vụ thảm sát Mậu thân và ở Miền nam sau 1975 học tập cải tạo, đánh tư sản mại bản, đẩy dân đi kinh tế mới, tổ chức vượt biển thu vàng, thảm nạn vượt biển,….

    Đồng thời, Ủy-ban cũng kêu gọi báo chí Việt ngữ hải ngoại sưu tầm tội ác của Hồ-chí-Minh và chế độ Cộng-sản Hà-Nội viết lại và phổ-biến để ngăn chận ảnh-hưởng của Quyết Nghị UNESCO.

    Ông Nguyễn-văn-Trần liên hệ với Tướng SIMON, Chủ tịch Ủy ban tương trợ Việt-Miên-Lào và Chủ tịch Hội Cựu Đông-Dương ANAÏ để kêu gọi Hội cựu chiến binh Pháp lên tiếng tố cáo tội ác của Hồ-chí-Minh và Đảng Cộng-Sản đă vi phạm nhơn quyền đối với tù binh Pháp sau chiến tranh Đông-Dương. Ông Nguyễn-văn-Trần liên-hệ với Thị-xả Paris và một số dân biểu, Nghị sỉ Pháp am hiểu về chế độ cộng-sản Hà-Nội để yêu cầu họ đặt « những câu hỏi với Chánh phủ » tại Quốc-hội để có thái độ đối với quyết nghị UNESCO, bởi Pháp là Quốc-gia đón nhận trụ sở UNESCO.

    T́nh h́nh thuận lợi :

    Bức tường Bá linh sụp đổ kéo theo khối Cộng-sản Đông-Âu đă ảnh hưởng sâu đậm đến nếp suy nghĩ về Cộng-sản của các nước Âu-châu và că thế-giới. Ông Frédéric Mayor, người Tây-ban-Nha đắc cử Tổng-Giám-Đốc UNESCO. Ông này am hiểu Cộng-Sản nên không có xu-hướng ủng hộ phe khuynh tả trong UNESCO như ông M’BOW trước kia. Kiều bào ở khắp nơi viết thư gởi về UNESCO có đến hàng hai mươi ngàn thư phản đối, yêu cầu hũy bỏ Quyết Nghị. Số thư này được ông Giám Đốc ĐNA ở UNESCO, cứ đến cuối tuần, chuyển qua cho Đại diện Hà-Nội tại UNESCO.

    Ông Nguyễn-văn-Trần sưu tầm tài-liệu tại các thư-viện và văn-khố Pháp chứng-minh sự đề cao Hồ-chí-Minh của Hà-Nội như một vĩ-nhân là hoàn-toàn dối trá. Thân phụ của Hồ-chí-Minh v́ say rượu phạt đ̣n làm chết oan một tội nhơn nên bị cách chức chớ hoàn toàn không v́ chống Pháp mà từ quan. Sau khi cha bị mất chức, không c̣n nguồn lợi tức để sinh sống và học hành nên Hồ-chí-Minh bỏ vào Phan-Thiết nhờ Hội Liên-Thành nhận cho làm thầy giáo dạy vở ḷng đám trẻ con mà sanh sống qua ngày. Nhưng số học sinh của một tỉnh lẽ lúc bấy giờ không đủ bảo đảm cho Hồ-chí-Minh một mức sống ổn định nên năm sau đó, Hồ-chí-Minh rời Phan-Thiết vào Sài-G̣n để xuống tàu Pháp làm phụ bếp mà có đồng lương đều đặng và khá hơn.

    Hồ-chí-Minh xuống tàu Pháp tại bến Nhà-Rồng ở Sài G̣n hoàn-toàn chỉ nhằm t́m kế sinh nhai cho bản thân và gởi tiền về nước giúp phụ thân.

    Cũng dịp này, Hồ-chí-Minh biết có trường thuộc địa đào tạo công chức hành-chánh cho chánh quyền thuộc địa nên vội làm đơn xin vào học để mong sau nầy « giúp ích nhà nước Pháp » . Đơn xin bị từ chối, v́ không đúng theo thủ tục là người xin phải được nhà cầm quyền Pháp ở Việt-Nam giới thiệu.

    Qua các văn kiện do Hồ-chí-Minh viết và khai báo ghi nhận Hồ-chí-Minh có nhiều ngày sanh khác nhau. Ngày chết năm 1969 cũng bị Đảng Cộng-Sản thay đổi : Ngài 2 tháng 09 thành ngày 3 tháng 09.

    Những chi tiết hộ-tịch nầy đă phơi bày sự thiếu chính xác và sự dối trá đă giúp Ủy Ban Tố cáo tội ác Hồ-chí-Minh thuyết phục UNESCO không thể chấp nhận ngày 19-05 là ngày sinh của Hồ-chí-Minh. Một cơ quan văn-hóa và Khoa học của Liên-hiệp-Quốc không thể chấp nhận sự dối trá được .

    Từ đây, UNESCO bắt đầu tin những lời phản-kháng của Cộng đồng người Việt Hải Ngoại và nghi ngờ thành tích của Hồ-chí-Minh là « Nhà văn-hóa ». Bởi không ai hiểu rỏ Hồ-chí-Minh hơn người Việt-Nam và nhứt là người Việt-Nam nạn nhơn của chế độ Hồ-chí-Minh.

    Thế là đến trước ngày 19/05/1990, ông Nguyễn-văn-Trần được mời dến UNESCO cùng với Tướng SIMON để UNESCO cho biết Quyết định của họ là không thi hành Quyết-Nghị . UNESCO giải thích là không thể hủy bỏ Quyết Nghị, bởi muốn hủy bỏ phải thông qua Đại-Hội-Đồng, với nhiều thủ tục phiền toái.

    Tiếp theo đó, UNESCO thông báo cho Hà-Nội biết quyết-định của UNESCO với những chi tiết như sau :

    - UNESCO không tổ chức lễ 100 năm của Hồ-chí-Minh tại Paris và Hà-Nội.

    - Cho Ṭa Đại sứ Hà-Nội ở Paris mướn một pḥng trong trụ sở UNESCO để tự tổ chức lễ Kỹ-niệm ( Hà-Nội muốn thuê 2 pḥng, nhưng bị Ủy Ban Tố cáo tội ác Hồ-chí-Minh can thiệp nên sau cùng chỉ mướn được một pḥng mà thôi ).

    - UNESCO và Chánh quyền Pháp, kể cả Thị-xả Paris không tham dự lễ.

    - Ban Tổ chức lễ ( kỹ-niệm 100 năm ) không được lợi dụng để tuyên truyền chánh trị và đề cao « Hồ-chí-Minh là Nhà văn hoá » theo tinh thần Quyết-Nghị.

    - Thiệp mời không được in h́nh Hồ-chí-Minh và không được ghi « lễ sinh nhật HCM là một nhà văn hoá »… mà chỉ ghi mời « tham dự buổi văn nghệ ».

    Quyết định không thi hành Quyết Nghị của UNESCO với những ngăn cấm đă được Văn-Chấn, tác giả bài báo của An ninh thế giới, số 177 thừa nhận nguyên văn như sau :

    « …Điển h́nh là một số người Việt Nam lưu vong ở Pháp, Mỹ và một số nước đă tụ tập nhau ở Paris thành lập cái gọi là « Ủy Ban chống tôn vinh Hồ-chí-Minh » ( đúng ra là Ủy Ban Tố cáo tội ác Hồ-chí-Minh ) do các tên Nguyễn-văn-Trần, Nguyễn-thừa-Thính, Chu-vũ-Hoan,…Chúng tích cực vận động một số nhân vật hữu phái trong chánh quyền các nước kư tên vào thư yêu cầu Tổng-thư-kư UNESCO hũy bỏ quyết định kỹ-niệm ngày sinh của Bác. Chúng viết bài cho các báo phản động Việt-Nam xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời Bác…

    Đă sắp đến ngày kỹ-niệm, nhưng Ban lảnh đạo UNESCO vẫn chưa dứt khoát lại c̣n gây sức ép thuyết phục ta đồng-ư tổ chức kỹ-niệm ở bên ngoài trụ sở UNESCO với lư do nhiều ư-kiến phản-đồi,….

    Với thái độ kiên quyết của phía ta, lảnh đạo UNESCO không thể bác bỏ, nhưng v́ họ bị nhiều sức ép nên đă đề nghị ta chấp nhận một thỏa hiệp : như không treo ảnh Bác trong hội trường, không triển lăm ảnh Bác ở hành lang UNESCO ; trong giấy mời ghi là đến xem văn nghệ,…

    Ba ngày trước lễ kỹ-niệm, t́nh-h́nh lại không diển ra như ta mong muốn. Tổng thư kư UNESCO mời đại điện phía ta đến ggặp và yêu cầu hoăn lễ kỹ-niệm với lư-do ta không giữ đúng lời hứa v́ trong giấy có in h́nh Bác và ghi : « Nhân kỹ-niệm 100 năm ngày sinh HCM, danh nhân thế giới,… ». Cuối cùng ta trả lời với ông Tổng thư kư là thay đổi giấy mời… Tuy nhiên, ta cho in 100 giấy mời mới (để mời người ngoại quốc ) c̣n giấy cũ gởi cho Việt-kiều yêu nước - Hội của Hà-Nội ) …

    Về phần nội dung buổi lễ, ta có thay đổi chút ít. Đồng chí Đại sứ không đọc bài diển văn dài về Bác mà thay vào đó là Đồng chí Nguyễn-kinh-Tài, Đại sứ bên cạnh UNESCO, đọc bài diển văn ngắn nói về ư nghĩa lễ kỹ-niệm, đọc quyết-định của Đại-hội-đồng UNESCO về kỹ-niệm 100 năm ngày sinh của Bác. Chủ tịch Hội đồng người Việt tại Pháp ( Hội Việt kiều yêu nước ) phát biểu ư kiến về công lao của Bác đối với dân tộc và thế giới ; cuối cùng là chương tŕnh xem văn nghệ do đoàn cải-lương trong nước phục-vụ ». ( An ninh thế giới, số 177, trang 14 ).

    Trong phần cuối, Văn-Chấn khoác lác hôm ấy có đến “ 2000 người tham dự, nhờ các vơ sĩ ngăn chận những người đến phá ”. Sự thật là hôm ấy có không quá 70 người tham dự lễ do sứ quán Hà Nội tổ chức và hoàn toàn không có ai muốn đến phá và ngăn chận những Việt kiều yêu nước đến tham dự lễ của họ.

    Nhận xét :

    - Buổi lễ 19/05/1990 hoàn toàn do Ṭa Đại sứ Hà-Nội tại Paris tổ chức trong một căn pḥng của UNESCO do họ thuê mướn ;

    - Không có đại điện của UNESCO và Chánh quyền Pháp đến tham dự ;

    - Buổi lễ đă không được thực hiện đúng theo tinh thần Quyết-Nghị “ Hồ-chí-Minh là một danh nhân thế-giới ” mà chỉ là một buổi văn-nghệ b́nh thường ( Đại sứ Phạm-B́nh của Hà-Nội không được quyền đọc diển văn và không được quyền nói về Hồ-chí-Minh như là một danh-nhân ) ;

    - Đảng Cộng-Sản và Hà-Nội đă không biết lấy làm xấu hổ về những hành động lật lộng và gian trá của ḿnh đối với một cơ quan văn-hóa Quốc-tế ( vụ tráo trở thiệp mời ) mà lại đề cao đó như là thành tích thắng-lợi .

    Điều thiếu xót đáng tiếc của Ủy Ban Tố cáo tội ác Hồ-chí-Minh là đă không quảng bá sâu rộng thành quả tranh đấu là “ UNESCO không thi hành Quyết nghị ”. Bởi nghĩ đă thắng lợi như vậy là đũ rồi !

    Do đó mà 10 năm sau, Hà-Nội mới dám lên tiếng khoe thành tích “ bảo vệ ” lễ kỹ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ-chí-Minh.

    Nguyễn đông A
    (môt thành Viên của Ủy Ban tố cáo tội ác Hồ-chí-Minh)

  • MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ BÀI « THỜI ÐẠI MỚI, TƯ TƯỞNG MỚI » CỦA ÔNG HOÀNG TÙNG

    MỘT VÀI Ư KIẾN VỀ BÀI « THỜI ĐẠI MỚI, TƯ TƯỞNG MỚI » CỦA ÔNG HOÀNG TÙNG

    Chu chi Nam

    Gần đây trên mạng lưới Ư Kiến ( http://www.ykien.net/ ) ngày 23/05/05 có đăng bài “ Thời đại mới, tư tưởng mớỉ « ( Thử suy nghĩ về tiền đồ chủ nghĩa Mác), của ông Hoàng Tùng, cựu Tổng Biên Tập tờ báo Nhân Dân, cựu Phát Ngôn Viên đảng Cộng sản Việt Nam. Sau đây , tôi xin có một vài ư kiến về bài viết trên.

    Việt Nam chúng ta có câu : « Văn hay chẳng lọ làm dài. Chửa đọc đầu bài đă biết văn hay «. Thật vậy, mới đọc nửa trang đầu bài văn của ông, tôi đă thấy quá dở. Dở về cả h́nh thức lẫn nội dung.

    Về h́nh thức, th́ văn không thành cú, nhiều câu thiếu chủ từ hay động từ, hoặc tối nghĩa, câu văn này tới câu văn kia không ăn khớp ư, hay không có một chuyển ngữ, kiểu các cụ ngày xưa nói : « Văi tung văi tóe, văi ra để cho nó có ». Thêm vào đó lại thích dùng những danh từ dao to, búa lớn.

    Về nội dung, th́ đưa ra những dữ kiện về tư tưởng, về lịch sử sai trái, không biết ông đă lấy nguồn lịch sử ở đâu, quyển sách nào ; tư tưởng này mâu thuẫn với tư tưởng kia, nghĩ ḿnh là đồ đệ của Marx, nhưng không nắm vững tư tưởng của Marx, ngay cả không nắm vững tiểu sử của Marx và Engels. Suốt một bài dài 33 trang, chỉ nhắc đến Hồ chí Minh một lần ; nhưng câu kết luận kêu gọi mọi người đi theo tư tưởng Hồ chí Minh. Chẳng ăn nhập ǵ vào thân bài và càng chứng tỏ ông Hoàng Tùng chẳng hiểu tư tưởng là ǵ, mặc dầu khi ông viết bài trên là ông tự nghĩ ḿnh là nhà tư tưởng ; nếu tôi không vơ đoán.

    Ông Hoàng Tùng viết ngay trang đầu, ở những ḍng cuối trang: « Tổng số sinh mạng chết do chiến tranh từ khi nó xẩy ra đến nay, các loại thiên tai, bệnh tật, có thể bằng tổng số dân đang sống. » ( trang1//33). Ông Hoàng Tùng là một người tôn thờ chủ nghĩa khoa học. Nếu nói đến khoa học, th́ phải nói đến những con số chính xác, nguồn gốc đích thực, có cơ sở, có dẫn chứng. Không riêng ǵ ở đây, mà suốt trong toàn bài, ông thường đưa ra những con số không dẫn chứng, không chính xác, không biết xuất xứ từ đâu, dựa vào tài liệu nào, quyển sách nào, công tŕnh nghiên cứu nào. Ông viết : « Tổng số sinh mạng chết … bầng tổng số dân đang sống », mà không đưa ra xuất xứ. Theo thống kê mới nhất th́ dân số thế giới hiện nay có vào khoảng 6 tỷ người. Theo câu nói của ông Hoàng Tùng, th́ số người chết từ khi có con người tới nay « có thể « là 6 tỷ người. Chưa có một công tŕnh nghiên cứu dân số học nào, chưa có một nhà nhân chủng học, nhà dân số học nào đưa ra con số này, v́ tôi chắc chắn rằng họ không có những dữ kiện nghiên cứu đầy đủ, và họ là nhà khoa học thực sự, nên không dám đưa ra những con số bừa băi, khác hẳn với ông Hoàng Tùng.

    Ngay cũng trang đầu, ḍng 3, ông Hoàng Tùng viết : « Như vậy là phải mất gần 3 triệu năm kể từ khi loài người tách khỏi các loài động vật, đứng thẳng đi bằng hai chân đến nay mới tới ngưỡng cửa một nền văn ḿnh mới này… « Con người tách khỏi các koài động vật », như vậy con người không c̣n là động vật nữa hả ? Thưa, để cho rơ nghĩa, phải viết « tách khỏi các loài động vật khác ». Cũng như cụm từ « một nền văn minh mới này « , tôi nghĩ chữ « một « ở đây là thừa, nếu « một « th́ không có chữ « này «.Ở đây mới ở trang đầu, mặc dầu trang đầu ngoài những tiêu đề, chỉ có 22 ḍng, mà đă chứng tỏ tŕnh độ ông Hoàng Tùng quá thấp kém, đưa ra những dữ kiện lịch sử không dẫn chứng, dùng danh từ không chính xác.

    Ở trang 2/33, ḍng 15, ông Hoàng Tùng viết :

    « Thế kỷ thứ 19, ở nước Đức hoặc nói cho chính xác hơn là ở ba nước Đức, Pháp, Anh xuất hiện hai nhà sáng lập triết học duy vật biện chứng và học thuyết cộng sản chủ nghĩa lấy cảm hứng từ triết học cổ điển Đức, học thuyết kinh tế và học thuyết xă hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa ở Pháp ». Ở đây ông Hoàng Tùng nói đến « hai nhà sáng lập « , th́ ai cũng biết là ông muốn chỉ Marx và Engels. Nhưng tại sao lại nói « hoặc cho chính xác hơn ở ba nước Đức, Anh, Pháp xuất hiện 2 nhà sáng lập », thực ra cách viết của ông không chính xác, v́ nếu hiểu nghĩa « xuất hiện « là sinh ra ở đó, th́ 2 người không thể sinh ra ở ba nước, và ai cũng biết rằng cả Marx và Engels đều sinh ra ở Đức. Câu này chứng tỏ ông Hoàng Tùng không nắm vững nguồn gốc tư tưởng của Marx, và ngay cả tư tưởng của Lénine, v́ nếu ai đọc nhiều Lénine, th́ đều rơ ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong nhiều tác phẩm của ông rằng tư tưởng của Marx là « Tổng hợp tư tưỏng triết học cổ điển Đức, tư tưởng kinh tế Anh và tư tưởng xă hội Pháp ». Tại sao ở đây ông Hoàng Tùng nói đến 3 nước Đức, Anh, Pháp, nhưng sau đó không nói đến tư tưởng kinh tế của Anh, mà lại viết : « học thuyết kinh tế và xă hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa Pháp ». Điều này chứng tỏ ông Hoàng Tùng không nắm vững, chẳng hiểu tư tưởng kinh tế của Marx, mặc dầu chính Marx nhấn mạnh đến yếu tố kinh tế là quyết định. Nếu chúng ta đọc Marx và đồng thời đọc Malthus và Ricardo, 2 nhà kinh tế Anh, mà Marx bị ảnh hưởng rất nặng, th́ chúng ta thấy rất rơ cái nh́n bi quan về lịch của Marx là lấy từ Malthus. Malthuc cho rằng dân số tăng theo cấp số nhân ( progression géommétrique), dân số cứ tăng gấp đôi mỗi 20 năm , ở đây ông Hoàng Tùng nói tăng theo cấp số « thiên văn », không phải có nghĩa này không ; trong khi đó th́ thức ăn, thức uống, đồ dùng của con người tăng theo cấp số cộng ( progression arithmétique ) ; v́ vậy càng ngày số người nghèo càng đông, càng có nhiều nạn đói. Cái nh́n này đă được Ricardo lấy lại và khai triển trong lư thuyết về lợi nhuận hàng năm của đất đai ( rente foncière). Theo Ricardo, th́ lợi nhuận đất đai mỗi năm một giảm, trong khi đó số dân mỗi năm một tăng ( quan niệm của Malthus). Mal thus và Ricardo cho rằng các ông chủ đất th́ càng ngày càng giàu và dân th́ càng ngày càng nghèo, v́ thời của Malthus ( 1766 – 1834), ông xuất bản quyển « Thử có một cái nh́n về nguyên tắc dân số » ( Essai sur le principe de la population) vào năm 1789 ; và của Ricardọ (1772 – 1823), ông xuất bản quyển « Những Nguyên tắc của kinh tế chính trị ( Principes d’économie politique) xuất bản vào năm 1817, thời của 2 ông là thời nông nghiệp c̣n giữ vai tṛ quan trọng ở bên nước Anh.. Thuyết thặng dư giá trị của Marx (1818 – 1883) là gần như lấy trọn vẹn thuyết lợi nhuận đất đai của Ricardo ; nhưng nay áp dụng vào thợ thuyền, vào thời kỳ kỹ nghệ.. Đấy là chưa kể lư thuyết về giá trị hàng hóa và tiền tệ của Marx là bị ảnh hưởng xâu đậm bởi Ricardo. Cái nh́n bi quan về lịch sử của Marx là cái nh́n bi quan của Ricardo và Malthus về đời sống nông dân, xă hội phong kiến ; nay Marx chuyển sang đời sống thợ thuyền, xă hội tư bản. Marx viết : « Sự phát triển kỹ nghệ đang đào hố xâu dưới mảnh đất mà giai tầng tư bản đang xây dựng hệ thống sản xuất và tư hữu của ḿnh. Giai tầng tư bản tiên khởi đang tự đào mồ chôn ḿnh. Sự sụp đổ của chế độ tư bản và chiến thắng của giai cấp vô sản là tất yếủ ( K. Marx – Le Manifeste du Parti communiste – trang 34 – Union générale d’Editions – Paris 1962). Trong khuôn khổ bài này tôi không thể phê b́nh quan niệm cách mạng tất yếu của Marx, xin quí vị xem thêm bài của tôi « Cách mạng tất yếu đă không xẩy ra tại các nước tư bản, mà cách mạng tất tyếu đă xẩy ra và c̣n xẩy ra ở các nước cộng sản » hay « Sự không tưởng của lư thuyết Marx » hoặc « Sự thiếu khoa học và hồ đồ của Marx theo K. Popper », trên các báo Việt Nam ở hải ngoại, đặc biệt là www.danchu.netwww.conong.com với bút hiệu Trực Ngôn hay Chu chi Nam .

    Tự nghĩ ḿnh là nhà tư tưởng, v́ ông Hoàng Tùng viết « Thời đại mới, tư tưởng mớỉ », và nhất là ông lại nghĩ tư tưởng của ḿnh là khoa học, dựa trên căn bản khoa học của tư tưởng Marx ; tuy vậy ông Hoàng Tùng không những không nắm vững tư tưỏng của Marx và Engels, mà c̣n không biết rơ tiểu sử của 2 người này. Ông viết tiếp : « Lời kêu gọi chuyển phong trào dân chủ tư sản sang phong trào dân chủ vô sản không được đáp ứng và bị đàn áp, hai nhà lănh đạo này của giai cấp công nhân ( là Marx và Engels - Lời chú thích của tác giả bài này) bị kết án rồi trục xuất sang Anh suốt đời « ( ḍng 36, trang 2/33). Engels có bao giờ bị kết án và bị trục xuất sang Anh, sống ở bên đó suốt đời đâu. Gia đ́nh Engels giầu có, thời đó, người Đức mà đă có một hăng kỹ nghệ dệt ở Manchester, mang tên kỹ nghệ Ermen-Engels, là như thế nào rồi. Engels lúc đầu sang Anh giúp cha 2 năm (1842-1844), rồi sau này, ông sang Anh sống luôn từ năm 1870, làm chủ hăng cho tới chết vào năm 1895, thế mà ông Hoàng tùng lại viết ở trang 3/33 ḍng 26 : « Engels ở Manchester làm thuê để sống và giúp gia đ́nh bạn ».

    Càng đọc thêm bài của ông Hoàng Tùng, càng nghe những lời tâng bốc ông như « một trong những nhà tư tưỏng và lư luận lư thuyết Marx hàng đầu Việt Nam », lời của ông cựu đại tá cộng sản Bùi Tín ở đài RFA và ở Buổi Hội luận về lịch sử cận đại Việt Nam đươc tổ chức vào ngày 25/04/05 tại trụ sở Quốc Hội Pháp, tôi càng đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác.Không những chẳng hiểu định nghĩa của chữ tư tưỏng ( Tôi sẽ nói tư tưởng là ǵ và Hồ chí Minh có phải là nhà tư tưỏng không, ở phần sau), không nắm vững tư tưởng của Marx, mặc dầu tiêu đề của bài là « Thử suy nghĩ về tiền đồ chủ nghĩa Marx), ông Hoàng Tùng c̣n viết văn không thành câu, thành cú..

    Ông viết : « Trong cuộc cách mạng dân chủ ở Pháp là tiêu biểu điển h́nh cách mạng dân chủ tư sản » ( ḍng 14, trang 4/33), theo văn phạm, nếu bắt đầu bằng chữ « trong « , th́ danh từ tiếp theo sau là túc từ gián tiếp chỉ nơi chốn hay thời gian ; như vậy th́ đâu là chủ từ của động từ « là « của câu trên, v́ « trong cuộc cách mạng », th́ không thể nào vừa làm túc từ gián tiếp vừa làm chủ từ cho động từ « là ».

    Ông c̣n viết : « Mác biểu dương nhân dân Paris xung phong tận trời xanh » ( cuối trang 9/33). Tôi không hiểu cụm từ « tận trời xanh » là những từ dùng cho tư tưỏng hay lịch sử hoặc để tả t́nh, tả cảnh ; nếu để tả t́nh, tả cảnh th́ ông Hoàng Tùng có ở đó đâu mà thấy tận trời xanh ; nếu là những từ dùng cho lịch sử và tư tưởng, th́ chẳng có tính cách tư tưởng và lịch sử ở chỗ nào. Hơn thế nữa, về nghĩa và văn phạm cũng không ổn. Cụm từ « tận trời xanh » đươc dùng như trạng từ để phụ nghĩa cho một động từ, nhưng ở đây phụ nghĩa cho động từ nào, nếu động từ « xung phong », th́ « xung phong tận trời xanh » là xung phong thế nào ; nếu phụ cho động từ « biểu dương » , th́ « biểu dương tận trời xanh « là biểu dương thế nào.

    Và cứ như vậy chúng ta gặp suốt bài rất nhiều đoạn văn không thành câu, thành cú..

    Về dữ kiện lịch sử, ông Hoàng Tùng viết : « … và sự ra đời của máy hơi nước vào cuối thế kỷ thứ 18 « ( ḍng 21 trang 2/33). Dạ xin thưa, để chính xác hơn, th́ nhà bác học Pháp Denis Papin ( 1647-1714) đ ă phát minh ra máy hơi nước có piston ( machine à vapeur à piston) ở Kassel, Đức vào năm 1687, tức cuối thế kỷ thứ 17, và ông đă thành công để làm chạy máy hơi nước này vào năm 1707, tức đầu thế kỷ thứ 18, chứ không phải cuối thế kỷ 18 như ông Hoàng Tùng nói.. Đồng thời lúc đó nhà bác học Anh Thomas Newcomen cũng sáng chế ra máy hơi nước và ứng dụng máy này vào năm 1712, tức đầu thế kỷ 18. Vào cuối thế kỷ thứ 18, năm 1767, th́ nhà bác học, cũng người Anh, J. Watt hoàn chỉnh máy hơi nước cho tốt hơn.

    Cũng về dữ kiện lịch sử, ông Hoàng Tùng viết :

    « Trong thế kỷ 20 – Liên Xô, các nước xă hội chủ nghĩa và các nước chịu tác động của nó đă bao phen làm đảo lộn thế giới : chọc thủng một dinh lũy lớn của chủ nghĩa đế quốc toàn cầu – Cách mạng tháng 10 – đánh thắng chủ nghĩa phát xít quốc tế, nếu không các nước tư bản chủ nghĩa c̣n lại nhất định bị ba nước phát xít xơi tái. » (cuối trang 5/33). Câu văn rất là tối nghĩa ; động từ « xơi tái » là ngôn từ của lịch sử, của tư tưởng hay là ngôn từ của ngành nào ; nhưng ở đây chúng ta không nói vế h́nh thức, mà chỉ nói về nội dung . Dựa trên những dữ kiện nào mà ông dám xác quyết : « nhất định bị 3 nước phát xít xơi tái. »

    Ông viết thêm :

    « Mussolini tiến công nhiều nước dân chủ. Đưa ra thuyết khối thịnh vượng chung Đại Bảo Á, thực chất là thiết lập không gian sinh tồn của ḿnh, Nhật phát động cuộc chiến chống Trung quốc, bắt đầu từ Măn châu năm 1931, mở rộng ra Bắc kinh năm 1937, phối hợp nhịp nhàng với Đức và Italia, phát động chiến tranh ra toàn vực châu Á, Thái B́nh Dương » ( giữa trang 12/33).

    Ông Hoàng Tùng thích nói đến khoa học, khoa học lịch sử, ; nhưng nếu nói đến khoa học lịch sử th́ chúng ta phải dùng những danh từ chính xác, những dữ kiện lịch sử chính xác. Tôi không hiểu Mussolini « tiến công nhiều nước dân chủ « đây là những nước nào. Ngay cả từ « tiến công » cũng không chính xác. Nước Ư tuyên chuyến với nước Pháp ngày 10/6/1940, 6/4/1941 với Nam Tư, 9/12/1941 với Hoa Kỳ và 29/12/1941 với Nga Sô.. Ư tấn công nước Hy lạp vào tháng 10/ 1940 ; nhưng bị thất bại nặng nề ở đây. Sau đó Hitler phải gửi quân nhảy dù đến giải cứu vào tháng tư và tháng 5/1941 ; vua và chính quyền Hy Lạp phải chạy qua Anh, nhưng dân tộc Hy lạp đă kháng chiến anh dũng, làm tổn thất nặng nề cho đoàn quân nhảy dù của Hitler.Nước Hy Lạp lúc đó là dưới thể chế quân chủ, dưới quyền của vua Georges II, đâu có phải là nước dân chủ. Mussolini có gửi quân sang tấn công các nước Phi châu như Somalie, Soudan, Kénya, Ethiopie ; nhưng những nước này là những nước thuộc địa.

    Điều tôi muốn bàn là vấn đề « các nước tư bản chủ nghĩa c̣n lại nhất định bị ba nước phát xít xơi tái » và vấn đề thứ hai là ba nước phát xít có « phối hợp nhịp nhàng » không, theo như ông Hoàng Tùng xác quyết. Xin thưa là không cho cả 2 trường hợp.

    Vấn đề « ..các tư bản c̣n lại nhất định bị ba nước phát xít xơi tái » : Ở đây ông Hoàng Tùng không nói rơ các nước tư bản c̣n lại là những nước nào ; nhưng lúc đó, ngoài 3 nước phát xít, 3 nước tư bản lớn là Hoa Kỳ, Anh và Pháp. Nước Pháp bị Đức tấn công và bị thua trong ṿng 1 tháng 12 ngày, từ ngày 10/5 đến khi kư hiệp ước đ́nh chiến với Đức, vào ngày 22/06/1940. Ở đây chúng ta không thể đi vào chi tiết lư do bại trận của Pháp. Nhưng đại để có 3 nguyên do chính :

    1) Đó là ḷng dân chán sợ chiến tranh, muốn có ḥa b́nh bằng bất cứ giá nào. V́ vậy nên Churchill có nói : « Quí vị muốn sống yên thân, ḥa b́nh, ngay dù trong nhục nhă. Kết quả, quí vị không chỉ có chiến tranh, mà quí vị c̣n có thêm nhục nhă. ».

    2) Lư do thứ hai đưa ra bởi De Gaulle : Đó là nước Pháp đă hết những thanh niên ưu tú, v́ họ đă chết quá nhiều trong thời Đệ Nhất Thế Chiến ; 3) Lư do thứ 3 đó là sự lầm lẫn trong chiến lược pḥng thủ của Pháp : Bộ Tham Mưu và Bộ Quốc Pḥng Pháp từ sau Đệ Nhất Thế Chiến cho tới khi Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ, đều là tướng lănh đă thắng Đệ Nhất Thế Chiến, đặt ưu tiên cho pḥng thủ thụ động (défense immobile), trận địa, dồn ngân sách quốc pḥng cho những công tŕnh này, và xao nhăng pḥng thủ di dộng ( défense mobile) như việc chế tạo, trang bị nhiều xe tăng và máy bay. Đó là lời yêu cầu của tướng De Gaulle, nhưng đă bị từ chối. Ngược lại, phía Đức, Hitler chủ trương pḥng thủ lưu động, chủ trương chiến tranh chớp nhoáng, đánh mạnh và đánh mau.. Chính v́ vậy mà đưa đến việc thua trận của Pháp. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên nhớ là Hitler mới lấy được nửa nước Pháp ; c̣n nửa phía Nam vẫn thuộc về chính phủ Pétain. De Gaulle có nói : « Nước Pháp mới thua một trận, nước Pháp chưa thua chiến tranh. »

    Phía Anh, công nhận Anh có gửi quân qua giúp Pháp, có một vài trận đụng độ nhỏ với quân Đức ; rồi sau đó quân Anh rút về Anh qua ngơ Dunkerque. Chúng ta chưa có thể nói là quân Anh, ngay cả lục quân, là thua trận. Về hải quân, trước đó mấy năm, Hitler có kư một hiệp ước với Anh công nhận sự hơn trội của hải quân Anh, với ư định câu giờ để tăng cường hải quân. Tuy nhiên cho đến lúc Đại Chiến Thứ Hai bắt đầu, th́ hải quân Đức vẫn thua hải quân Anh. Bằng cớ là vào tháng 7/1940, Hitler định đổ bộ hải quân qua tấn công Anh, với chiến dịch Seelowe ; nhưng sau đó phải hủy bỏ, v́ Hitler biết rơ hải quân Đức thua hải quân Anh. Về sau, Hitler đă cho đóng và hạ thủy chiếc tàu Bismark với khẩu đại bác khổng lồ, có ư định là sẽ hạ tất cả các tàu trên biển. Nhưng đây là một việc làm, nếu không nói là điên rồ, th́ cũng là không tính toán kỹ càng, v́ không nghĩ đến đoàn tàu hộ tống và hải cảng tiếp liệu và ẩn náu ( port d’attache). Vừa mới hạ thủy một thời gian ngắn, chiếc Bismark đă bị hải quân Anh đánh ch́m, v́ 2 lư do trên.

    Về không quân, những lời tuyên bố của thống chế Goering, Tổng Tư Lệng không quân Đức, theo đó Đức sẽ làm chủ không phận nước Anh, lời tiên đoán này đă khác hẳn với thực tế ; nếu chúng ta nghiên cứu về Đại Chiến Thứ Nh́ và những trận không chiến giữa Anh và Đức. Trong khuôn khổ bài này, tôi không thể đi xâu vào chi tiết. Đại để, không quân Anh hơn hẳn không quân Đức v́ những lư do sau :

    1) Anh đă phát minh ra « radar », trong khi đó Đức chưa có, nên những đoàn phi cơ Đức đă được phát hiện trước khi tới Anh, không quân Anh đă sửa sọan sẵn sàng để nghênh chiến ;
    2) Về kỹ thuật, phi cơ Anh hơn phi cơ Đức ;
    3) Về phi công, phi công Anh có kinh nghiệm hơn phi công Đức, v́ phi công Anh đă thao luyện ở chiến trường Phi châu, chẳng hạn như dẹp loạn ở Nam Phi. Không quân Đức mới được thành lập sau này khi Hitler lên nắm quyền, v́ theo Ḥa Ước Versailles 1919, Đức không có quyền tái vơ trang. Khi lên nắm quyền năm 1933, Hitler không thi hành ḥa ước này.. Từ năm 1933 tới năm 1940, chỉ là 7 năm , thời gian quá ngắn để có thể có những phi công kinh nghiệm, trong khi đó th́ không quân Anh đă có từ lâu và không có một hiệp ước, một cường quốc nào có thể cấm cản tăng cường. Trận không chiến Anh-Đức bắt đầu vào ngày 10/7/1940 ; mặc dầu kéo dài măi về sau với những hỏa tiễn mang bom như V1, V2 ; nhưng Đức đă thua về không chiến ngay từ lúc đầu. Đây là tiếng chuông báo tử đầu tiên cho Đức.

    Trở về câu của ông Hoàng Tùng : « …, nếu không các nước tư bản chủ nghĩa c̣n lại nhất định bị ba nước phát xít xơi tái ». Câu này hoàn toàn sai v́ nó không dựa trên một căn bản khoa học lịch sử nào, mặc dầu ông Hoàng Tùng thích nói tới khoa học. Hơn nữa ông c̣n dám xác quyết « nhất định ». Ngay đối với Anh, Đức c̣n chưa có thể » xơi tái « . Huống chi, về sau này, khi Hoa kỳ tham chiến, th́ sự bại trận của ba nước phát xít đă trở nên quá rơ rệt.

    Về nước Ư, nước này bị coi là nước thấp kém nhất về quân sự trong 3 nước phát xít ; mặc dầu Mussolini được Hitler coi như bậc đàn anh, v́ chế độ phát xít là do Mussolini thành lập đầu tiên ở Ư năm 1921 ( thành lập đảng phát xít), nắm quyền cuối năm 1922. Ư chính thức bước vào Đại Chiến Thứ Hai bên cạnh Đức, khi tuyên chiến với Pháp ngày 10/6/1940, tuyên chiến với Hoa kỳ ngày 9/12/1941, với Nga Sô ngày 29/12/1941. Tháng 8/1940, Ư xâm chiếm Somalie (Phi Châu), một nước không pḥng bị, thuộc địa của Anh, v́ quân đội Anh đă rút khỏi ở đây. Quân Ư vào Soudan và Kénya, tràn sang Ethiopie và Lybie, định từ 2 nước này làm thành một gọng ḱm đánh xuống Ai Cập ( l’Egypte) tiến về Alexandrie của Ai Cập, không ngờ quân Ư bị sa lầy ở Ethiopie và Lybie. Quân của Thống Tướng Ư Grazini bị chận lại bởi quân của Tướng Anh Wavell. Quân Ư đi đến thất trận vào cuối tháng 12/1940, đầu tháng 1/1941. Tháng 10/1940, Ư tấn công Hy Lạp ; nhưng bị thảm bại ở đây v́ dân Hy Lạp kháng cự mănh liệt, và phải cầu cứu tới Hitler vào tháng 1/1941. Hitler, sau khi thua không chiến với Anh trên thực tế, bỏ kế hoạch tấn công Anh, sửa sọan kế hoặch tấn công Nga ; và mặc dầu dầu Hitler chưa quan tâm đến vùng Địa Trung Hải và Phi Châu ; nhưng để cứu danh dự Mussolini, bậc đàn anh của ḿnh, Hitler buộc phải gửi sư đ̣an thiết giáp Panzer, chỉ huy bởi Rommel vào Lybie để cứu quân đội Ư. Chính v́ vậy mà kế hoặch Barbarossa tấn công Nga Sô, dự trù vào tháng 5/1941, phải dời lại vào ngày 21/06/1941, làm cho tới gần mùa đông hơn ỏ Nga. Đây cũng là một trong những lư do đưa đến sự thất trận của quân Đức ở Nga Sô.

    Về nước Nhật : nước này đă chiếm Măn châu từ năm 1931, và đi xâu vào nội địa, chiếm những thành phố lớn vào năm 1937 ; nhưng bị kháng cự mănh liệt của dân Tàu, rồi bị sa lầy ở đây cho tới khi phải đầu hàng.

    Nhật có đổ bộ vào Đông Dương với sự chấp nhận bị ép buộc của chính quyền bảo hộ Pháp Pétain, đổ bộ vào Miến Điện, Phi luật Tân. Tuy nhiên theo những nhà chuyên môn về quân sự, th́ đây chỉ là chiến trường phụ. Chiến trường chính của Nhật vẫn là nước Tàu, mà Nhật bị sa lầy ở đây.

    Về trận Chân Châu Cảng ( Pearl Habour) mà Nhật tấn công bất ngờ Hoa kỳ vào ngày 7/12/1941, th́ đây vẫn là một bí hiểm lịch sử ( l’énigme historique), v́ vào thời buổi này, Hoa Kỳ đă có một hệ thống điện đài nghe lén « téléphone » rất tinh vi và hữu hiệu. Những trận thủy chiến sau này giữa Nhật và Hoa Kỳ ở Thái B́nh Dương mà quân đội Hoa Kỳ đă thắng, một phần là nhờ những điện đài này, giúp cho hải quân Hoa Kỳ biết lộ tŕnh của hải quân Nhật, để sửa soạn tránh né hay tấn công trước. Hỏi như vậy, th́ tại sao Hoa Kỳ lại không biết Nhật sẽ tấn công Chân Châu Cảng, ngày giờ th́ không chắc, nhưng ít ra cũng biết là sẽ bị tấn công. V́ vậy, có giả thuyết cho rằng chính phủ Hoa Kỳ để cho Nhật tấn công, để thay đổi dư luận dân Hoa Kỳ ; và như thế, chính phủ Hoa Kỳ của tổng thống Roosevelt mới có thể tham chiến. Chúng ta nên nhớ là trong chương tŕnh ra tranh cử tổng thống vào năm 1940, tổng thống Roosevelt hứa với dân Hoa Kỳ là không tham chiến Đệ Nhị Thế Chiến.

    Ông Hoàng Tùng viết về Đệ Nhị Thế Chiến : « Nhật phối hợp nhịp nhàng với Đức và Italia, phát động chiến tranh ra toàn khu vực châu Á, Thái B́nh Dương ».Dạ thưa không, Nhật không phối hợp nhịp nhàng với Đức và Ư ; và chúng ta có thể nói cả ba nước phát xít không phối hợp nhịp nhàng, nước nào cũng muốn chiếm một vùng làm bá chủ riêng. Tôi xin dẫn chứng.

    Sự phối hợp giữa Đức và Ư : Như trên tôi đă nói, Ư thấy Đức chiến thắng ở nhiều nơi, nên Mussolini cũng gửi quân sang chiếm Hy lạp, chiếm một vài nước Phi châu, nhưng bị sa lầy ở đó, phải cầu cứu tới Hitler. Để gỡ danh dự cho Mussolini, Hitler phải gửi quân sang tiếp cứu, mặc dầu Hitler chưa quan tâm với vùng Balkan và Phi châu, làm cho kế hoặch tấn công Nga Sô bị chậm trễ hơn 1 tháng. Mùa đông ở Nga tới cận hơn, một trong những lư do chính làm cho quân Hitler thất bại ở đây. Như vậy chứng tỏ không có sự phối hợp nhịp nhàng giữa Đức và Ư.

    Sự phối hợp giữa Nhật, Đức và Ư : Nếu ai đọc lịch sử Tàu cận đại, th́ đều rơ giữa Tưởng giới Thạch, Mussolini và Hitler có một mối giao hảo thân t́nh, bạn bè thân thiết. Mussolini đă tặng một chiếc máy bay cá nhân đặc biệt cho họ Tưởng. Có nhiều cố vấn của Hitler giúp Tưởng trong quân đội. Tưởng tổ chức quân đội và thanh niên phát xít Tàu là theo Ư và Đức. Khi Đại Chiến bắt đầu, Tưởng muốn đứng trung lập. Quân đội Nhật đánh xâu vào nội địa Tàu, làm Tưởng ngả về phía Hoa Kỳ. Việc này làm Đức và Ư rất bất b́nh Nhật. Hitler đă đề nghị với Nhật một chiến lược gọng ḱm để đánh Nga Sô : Để cho Tàu đứng trung lập, Nhật cùng Đức đánh Nga ; Nhật tiến quân từ phía Măn châu, Á châu ; Đức tiến quân từ phía Âu châu, làm một gọng ḱm kẹt Nga Sô ở giữa ; nhưng Nhật từ chối, làm Đức phải đánh một ḿnh. Nhật không những không nghe lời Hitler, mà c̣n không tuyên chiến với Nga Sô cho tới khi đầu hàng. Nga Sô chỉ tuyên chiến với Nhật sáu ngày trước khi Nhật đầu hàng, tuyên chiến ngày 9/8/1945, ngày trái bom nguyên tử thứ nh́ bỏ xuống Nagashaki, trái bom trước bỏ xuống Hiroshima ngày 6/8. Nhật đầu hàng ngày 15/8/1945.

    Những dữ kiện trên chứng tỏ câu nói của ông Hoàng Tùng rằng « Nhật phối hợp nhịp nhàng với Đức và Italia « là không có cơ sở khoa học lịch sử.

    Về Marx và Engels, theo nguyên tắc 2 người này ông Hoàng Tùng phải biết rất rơ tiểu sử, v́ ông ca tụng 2 ông này, thế mà ông đưa ra những dữ kiện về tiểu sử hoàn toàn sai. Ông viết : « Hai ông ( tức Marx và Engels - lời chú giải của tác giả bài này) bị ṭa án nước Đức và trục xuất khỏi nước Đức » ( trang9/33, ḍng 25). Chỉ cần trong một câu ngắn của « một trong những nhà tư tưởng và l ư luận Mác Lê hàng đầu Việt Nam « , chúng ta cũng thấy lỗi về cả nội dung lẫn h́nh thức. Hai ông bị ṭa án Đức làm cái ǵ, ở đây thiếu động từ. Nếu bảo ṭa án Đức trục xuất th́ sai về nghĩa, v́ ṭa án chỉ kết án, rồi chính quyền thi hành bản án mới trục xuất. Về nội dung, sự kiện lịch sử, Engels không bao giờ bị ṭa án Đức kết án và bị chính quyền Đức trục xuất.

    Liền sau đó trong cùng một trang, xuống ḍng, ông viết : « Lúc đầu Marx ở Luân Đôn, Engels ở Manchester làm thuê để sống và giúp gia đ́nh bạn » Dạ thưa, Engels giúp Marx, đồng ư ; nhưng Engels không làm thuê, mà làm cho hăng kỹ nghệ dệt của gia đ́nh ḿnh, mang tên Ermen-Engels ở Manchester. Chúng ta nên nhớ vào giữa thế kỷ thứ 19, một gia đ́nh Đức mà có một hăng kỹ nghệ dệt ở bên Anh, th́ giầu có như thế nào. Hơn thế nữa, Engels kết án chủ bóc lột, bênh vực thợ ; nhưng không bao giờ áp dụng những lư tưởng mà ḿnh kêu gào, theo đuổi, vào chính hăng xưởng của gia đ́nh ḿnh, và về sau là của chính ḿnh.

    Cũng trong trang 9, ḍng 28, ông Hoàng Tùng viết : « Ông ( tức Marx-lời chú giải của tác gỉ bài này), ngă gục, từ giă cơi đời năm 1883 ». Tôi không hiểu từ « ngă gục » dùng ở đây là một từ lịch sử hay là một từ ǵ. Nếu về lịch sử, th́ hoàn toàn sai về sự kiện lịch sử.. Marx không ngă gục, mà Marx chết v́ bệnh lao phổi, một thứ bệnh thịnh hành ở Âu châu lúc bấy giờ, và vào thời này cho tới khi Marx chết, mới phát minh ra thuốc chữa. Hơn thế nữa, trước khi chết, Marx có đi dưỡng bệnh ở Algérie từ tháng 2 tới tháng 5 / 1882. Marx qua Pháp, lấy tàu thủy ở Marseille rồi qua Algérie, theo lời khuyên của bác sĩ và của con cái, v́ khí hậu ở Anh ẩm ướt, khí hậu ở Algérie khô có lợi cho phổi. Sau khi dưỡng bệnh ở Algérie, Marx trở về Anh, thăm con cái, rồi chết trên một cái ghế bành, chứ không phải « ngă gục », vào tuổi 65, v́ Marx sinh năm 1818 và chết năm 1883. Tuổi 65 là thọ vào thời này, cuối thế kỷ 19, v́ tuổi thọ trung b́nh của Âu châu vào đầu thế kỷ 20 là mới chỉ là 50.

    Ở trang 18, ông Hoàng Tùng viết : « Sự can thiệp của con người không thể phá bỏ qui luật, một chế độ kinh tế xă hội chỉ có thể thay đổi do sự phát triển đến hạn của kỹ thuật sản xuất và một nền văn hóa phù hợp. Cái con người có thể thay đổi là thế lực và thể chế quyền lực song cũng có giới hạn, quá khứ sẽ giành lại nếu đi quá xa. » (trang 18/33, ḍng 5). Ở đây ông Ḥang Tùng chưa hiểu rơ định nghĩa chữ qui luật, qui là qui tắc ( règles), luật là luật lệ ( lois). Có 2 loại qui luật : qui luật tự nhiên như nước xôi ở 100 độ c, đông đặc ở 0 độ, trái đất quay chung quanh mặt trời, vạn vật bị chi phối bởi sức hút của trái đất v.v… Những qui luật tự nhiên đó, con người không thể thay đổi, xóa bỏ được ; nhưng cũng có những qui luật do chính con người làm ra, th́ nó có thể thay đổi và xóa bỏ chứ, như luật hiến pháp, một thứ luật cao nhất trong các luật của một quốc gia, luật ly dị, luật đi đường, luật ngân hàng v.v.. ; những thứ qui luật này con người có thể thay đổi và xóa bỏ chứ, như luật ly dị, trước kia khó khăn, bây giờ dễ dăi, như luật đi đường, có nước ưu tiên cho tay phải, có nước ưu tiên cho tay trái.

    Ông Hoàng Tùng viết tiếp : « Cái con người có thể thay đổi là thế lực và thể chế quyền lực song cũng có giới hạn… » Chỉ cần 2 câu liền nhau chúng ta đă thấy mâu thuẫn. Hỏi thể chế quyền lực là cái ǵ nếu không là hiến pháp, luật lệ hay qui luật của một chế độ. Câu trước nói « con người không thể xóa bỏ những qui luật », liền câu sau nói : « cái con người có thể thay đổi là thế lực và thể chế quyền lực » ; hay tại v́ ông dùng danh từ mà không hiểu rơ định nghĩa của nó, thưa ông Hoàng Tùng, « một trong những nhà tư tưởng và lư luận Mác Lê hàng đầu Việt nam » ? Có lẽ là hàng đầu của đảng cộng sản Việt Nam, chứ tôi không nghĩ dân Việt lại có một nhà tư tưởng và lư luận quá thấp kém như thế này.

    Hơn thế nữa, là nhà lư luận tư tưởng Mác Lê, nhưng ông không nắm vững tư tưởng của Marx. Marx chia xă hội ra làm 2 tầng kiến trúc : hạ tầng và thượng tầng.

    Hạ tầng gồm sức sản xuất, kỹ thuật sản xuất và tương quan sản xuất. Thượng tầng là h́nh thức tổ chức chính quyền, luật lệ, nghệ thuật, tư tưởng, triết học và tôn giáo. Marx cho rằng hạ tầng quyết định thượng tầng, khi h́nh thái tổ chức sản xuất kinh tế thay đổi, th́ thượng tầng tự động phải thay đổi theo ; nếu không hạ tầng sẽ phá vỡ thượng tầng cũ để tạo ra cho ḿnh một thượng tầng mới. Marx có dùng một h́nh ảnh để chỉ rơ thượng tầng và hạ tầng : đó là thượng tầng được ví như b́nh chứa ; hạ tầng được ví như chất chứa ; hạ tầng như rượu và thượng tầng như chai đựng rượu. Nếu chất chứa thay đổi, lớn mạnh ra, Marx cho rằng sức sản xuất kinh tế mỗi ngày một lớn mạnh thêm, mà b́nh chứa tức thượng tầng, tức thể chế, quyền lực không lớn mạnh theo, th́ chất chứa sẽ phá vỡ b́nh chứa. Đây cũng là quan niệm cách mạng của Marx, v́ ông cho rằng cách mạng chỉ là sự thay đổi những h́nh thái sản xuất kinh tế ( mode de production économique). Theo đúng tinh thần tư tưởng của Marx, th́ sự thay đổi thượng tầng tức thể chế quyền lực chỉ là hậu quả tất yếu của sự thay đổi hạ tầng.

    Ông Hoàng Tùng viết : » Cái con người có thể thay đổi là thế lực và thể chế quyền lực. » Theo đúng nghĩa câu này th́ con người chỉ có thể thay đổi « thế lực và thể chế quyền lực » thôi à ?

    - Không, con người c̣n có thể thay đổi nhiều cái khác. Nhất là theo đúng tinh thần tư tưởng của Marx, th́ cái mà con người cần thay đổi chính là hạ tầng cơ sở kinh tế, và một khi hạ tầng cơ sở kinh tế thay đổi rồi, th́ thượng tầng tự động thay đổi theo, nếu không th́ hạ tầng sẽ phá vỡ thượng tầng.

    Ở đây tôi cũng xin mở một dấu ngoặc để phê b́nh qua về quan niệm thượng tầng và hạ tầng của Marx, để cho rơ vấn đề. Nh́n một cách sơ qua th́ chúng ta thấy cách phân chia này rơ ràng, khoa học, tầng trên, tầng dưới. Nhưng nếu chúng ta xét xâu vào vấn đề th́ không rơ ràng và khoa học một chút nào, v́ ở hạ tầng có sức sản xuất là con người, có kỹ thuật sản xuất là trí óc con người, nó dính liền lên thượng tầng. Bảo rằng chỉ có hạ tầng ảnh hưởng lên thượng tầng ; hay chỉ có thượng tầng ảnh hưởng xuống hạ tầng là không đúng. Thực ra là có ảnh hưởng hỗ tương, tương tác. Ở điểm này, một nhà tư tưởng Marx, theo đúng nghĩa của nó, chứ không phải nhà tư tưởng Marx như ông Hoàng Tùng ; đó là ông Gramsci, người thành lập ra đảng cộng sản Ư, người vừa là bạn của Mussolini và cũng bị Mussolini bỏ tù. Gramsci đă phê b́nh tư tưởng của Marx, cho rằng cách nh́n của Marx về xă hội có tính chất phiếm diện và máy móc. Theo Gramsci, xă hội không phải chia ra làm 2 tầng, mà chia ra làm 3 tầng. Ngoài thượng tầng và hạ tầng, c̣n một tầng ở giữa. Đó là tầng « vùng ảnh hưởng » ( sphère d’influence), bao gồm tất cả những ưu tú của xă hội trong mọi ngành nghề, mọi lănh vực. . Vùng ảnh hưởng này vừa ảnh hưởng xuống hạ tầng, vừa ảnh hưởng lên thượng tầng, và đồng thời dẫn đường, chỉ lối cho xă hội , cũng như tạo ra những biến đổi xă hội, những khúc quanh lớn của xă hội, nếu tiến triển của xă hội bị tắc nghẽn. Gramsci c̣n cho rằng sự hiểu biết của Marx có quá tính cách sách vở ( connaissances livresques), thiếu sự hiểu biết qua chiêm nghiệm ( connaissances par méditattion). Chính sự hiểu biết qua chiêm nghiêm, theo Gramsci, t́m ra ánh sáng chân lư, khác hẳn hiểu biết qua sách vở có tính cach máy móc, không mấy sáng tạo và không uyển chuyển. ( Xin xem thêm Sự hồ đồ của Marx theo Karl Popper – bài của tác giả bài này).

    Trở về bài « Thời đại mới, tư tưỏng mới. », Ông Hoàng Tùng viết :

    « Riêng nước Mỹ một năm sản xuất được 50.000…. chiếm 1/5 của cải toàn cầủ ( Ḍng 26 trang 27/33). Tôi xin nói ở đây tôi chép lại nguyên văn của ông Hoàng Tùng, không thiếu một dấu chấm, v́ 50.000 có 4 cái chấm theo sau. Chỉ cần một câu rất ngắn như trên, chúng ta đă thấy rơ tŕnh độ hiểu biết cùng sự hồ đồ, liều lĩnh, không có một tư ǵ là khoa học của ông Hoàng Tùng. 50.000 là 50.000 cái ǵ, là 50.000 tỷ $ hay 50.000 cái xe hơi, 50.000 cái ṭa nhà chọc trời ? Nếu không biết là cái ǵ mà lại thay thế bằng bốn cái chấm, th́ đừng nên nói. Ông không biết là 50.000 cái ǵ, thế mà ông dám viết liền câu sau « chiếm 1/5 của cải toàn cầu « Nếu đó là 50.000 cái xe hơi, th́ làm sao có thể chiếm 1/5 của cải toàn cầu. Theo tính thần khoa học, toán học, khoa học của những khoa học, như nhiều nhà bác học trong đó có Marx đă nói, th́ với 2 con số A và B, chúng ta chỉ có thể so sánh được khi chúng ta biết rơ giá trị của 2 con số này. Chúng ta chưa biết giá trị của con số A làm sao chúng ta có thế so sánh B với A. Để đánh giá « của cảỉ « hay đúng ra là tài sản của một quốc gia rất là khó. Có một số người trước đây cũng đă làm công việc này, nhưng bị chỉ trích, rồi sau bỏ, v́ tài sản của một quốc gia bao gồm tài sản vật chất hay cả tinh thần ? Ngay dù là vật chất, nhưng làm sao đánh giá đúng những sách vở quí giá trong thư viện, làm sao đánh giá đúng những vật quí giá trong bảo tàng viện ? Chính v́ vậy mà ngày hôm nay người ta chỉ thường so sánh về tổng sản lượng quốc gia hàng năm. Tính theo tổng sản lượng, th́ tổng sản lượng của Hoa Kỳ năm 2003 là 10 383 100 triệu $, khoảng hơn 10.000 tỷ $ chiếm 32,12% tổng sản lượng thế giới ; Nhật bản là 3 993 433 triệu $, gần 4 000 tỷ $ chiếm 12,36% tổng sản lượng thế giới ( theo l’Année stratégique 2005, sous la Direction de Pascal Boniface – trang 265 và trang 511 -nhà xuất bản Armand Colin – Paris 2004).

    Trang 31 ḍng 18, ông Hoàng Tùng viết : « Chân lư bao giờ cũng cụ thể, cách mạng là sáng tạo « . Dạ thưa, ông Hoàng Tùng thích nói đến khoa học, mà một trong những khoa học khoa học nhất là tóan học, ông cũng không nắm vững.. Chân lư tóan học đâu có cụ thể, chẳng hạn như phương tŕnh đơn giản f(x) = 2x, x biến đổi từ cực tiểu ( - oo = trừ infini ) tới cực đại (+ oo = cộng infini ) ( v́ máy không có dấu cực tiểu, cực đại, nên tôi viết 2 o ghép lại). Ư niệm cực tiểu, cực đại có cụ thể đâu. Cũng như trong h́nh học, người ta định nghĩa ṿng tṛn là tổng số những điểm cách đều một điểm cố định là trung tâm. Ở ngoài đời, chúng ta không thể nào t́m thấy một cái h́nh tṛn ḥan hảo như trong định nghĩa tóan học. Trong hóa học, các nhà bác học dịnh nghĩa nguyên tử bao gồm neutron, potron và electron. Neutron , potron va electron có cụ thể đâu ; nhưng đó vẫn là chân lư của khoa học.

    Trang 32, ḍng 17, ông Hoàng Tùng viết :

    « Người…… chỉ đi đứng cũng không nói, nói chi nâng cao năng xuất lao động ( ?) « ( Tôi chép nguyên văn, không thiếu một chấm, một phảy - lời tác giả bài này). Trong câu này, ông Hoàng Tùng dùng sáu cái chấm (…… ) sau chữ « Người « và dấu hỏi ( ?), trong mở ngoặc và đóng ngoặc là có ư nghĩa ǵ ? Về h́nh thức, cách dùng dấu chấm và dấu hỏi là sai, và cách dùng chữ « cũng « cũng sai. Người ta dùng chữ « cũng « để nhấn mạnh 2 mệnh đề cùng một ư nghĩa, dùng ở mệnh đề sau, dù xác định hay phủ định. Thí dụ : Anh đi bơi là tốt ; anh chạy cũng tốt, v́ cả 2 đều lợi cho sức khỏe. Dấu hỏi là dùng để đặt cuối câu, khi câu đó có ư nghĩa hỏi. Tôi thấy cả 2 câu không có ư nghĩa ǵ là câu hỏi, tại sao ông Hoàng Tùng lại dùng câu hỏi ở đây. Nói về nội dung th́ câu trên thật là tối nghĩa.

    Cứ như vậy trong suốt một bài dài 33 trang, ông Hoàng Tùng nói đến lịch sử, lịch sử đảng cộng sản Nga sô, Trung Cộng, đến khoa học, đến văn minh, đến tư tưởng, đến trí thức, đến vai tṛ của trí thức v.v…; nhưng tất cả đều không có dẫn chứng nguồn gốc từ một quyển sách nào, từ một công tŕnh nghiên cứu nào ; những dữ kiện lịch sử, khoa học đều thiếu cơ sở khoa học, đó là về nội dung ; c̣n về h́nh thức , th́ nhiều câu văn tối nghĩa, khó hiểu, sai văn phạm, văn không thành câu, thành cú.

    Ông Hoàng Tùng kết luận bài của ḿnh bằng một câu : « Tư tưởng Hồ chí Minh măi măi soi đường cho thế hệ chúng ta « ( cuối trang 33) .

    Thứ nhất, câu kết luận này không có ăn nhập ǵ với thân bài, v́ trong suốt một bài dài 33 trang, ông Hoàng Tùng chỉ nói đến Hồ chí Minh một lần ở cuối trang 5, vỏn vẹn trong câu « …, chấm dứt cái ṿi thứ hai của con bạch tuộc như Hồ chí Minh dự báo từ năm 1920 ». Và như vậy, theo nguyên tắc của một bài luận văn, một bài thuyết tŕnh hay một quyển sách, th́ câu kết này ḥan ṭan lạc đề, nếu nói nặng th́ ông Hoàng Tùng không ở tŕnh độ một học sinh trung học làm luận văn.

    Có người đưa ra lập luận bảo rằng ông Hoàng Tùng sống dưới một chế độ độc tài đang tôn thờ Hồ chí Minh, nên phải đưa ra câu này vào cuối cùng để thoát hiểm. Vâng, ngay dù đồng ư như vậy ; nhưng cũng nên làm một cách hợp lư hơn, ít ra cũng nhắc tới Hồ chí Minh ba bốn lần rồi đưa ra câu này. Chỉ nói đến Hồ chí Minh có một lần, rồi đưa ra câu kết luận như vậy, chứng tỏ ông Hoàng Tùng cũng không khôn khéo.

    Không những không khôn khéo, mà ông Hoàng Tùng c̣n vừa có trí nhớ ngắn, vừa không ở tŕnh độ để hiểu thế nào là tư tưởng, nên mới đưa Hồ chí Minh lên thành nhà tư tưởng..

    http://lichsuvn.blog.co.uk/2007/03/01/tra_loi_hoang_tung_tiep~1827004

  • THẾ TẤT THẮNG CỦA NHỮNG NGƯỜI DÂN CHỦ

    THẾ TẤT THẮNG CỦA NHỮNG NGƯỜI DÂN CHỦ,

    THẾ TẤT THUA CỦA NHỮNG CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI

    Ngày hôm nay, thế tất thắng của những người đấu tranh cho tự do, dân chủ trên ṭan thế giới nói chung ; cho dân tộc Việt Nam nói riêng ; và thế tất thua của những chế độ độc tài, trong đó có cộng sản Việt Nam, đă quá rơ. Ở đây tôi chỉ xin nói về thế tất thua của cộng sản Việt Nam. Những người đấu tranh cho dân chủ Việt Nam sẽ thắng hay nói một cách khác đi cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ v́ 3 sức ép sau đây : 1) Sức ép đến từ người dân ; 2) Sức ép đi từ trong ḷng chế độ ; 3) Sức ép đến từ cộng đồng quốc tế.

    I) Thế tất thắng đến từ ngừơi dân

    Ngày hôm nay, dân Việt vô cùng căm thù cộng sảnv́ họ ư thức rất rơ là họ bị lừa, họ nh́n ra rơ bộ mặt thật của cộng sản. Đó chỉ là những phường giết người, cướp của.Cộng sản đă để rớt 2 mặt nạ : quốc gia dân tộc và xă hội chủ nghĩa.

    Sự thật càng ngày càng được phơi bày, chứng tỏ cộng sản không có một tư ǵ là quốc gia dân tộc, ngay bắt đầu từ Hồ chí Minh. Có lẽ trong lịch sử Việt Nam, và ngay cả lịch sử trên thế giới, chưa có một ai lại vọng ngoại như họ Hồ, đặt tên núi là núi K. Marx, tên suối là suối Lénine, ở gần hang Bắc Bó, khi Hồ sống vào những năm 40 ; ngay ở những nước Đông Âu, Bắc Hàn, Cuba cũng không có sự kiện này ; chỉ có với Hồ chí Minh ở Việt Nam. Không những vậy, hắn c̣n hỗn xược với những anh hùng Việt Nam, xưng tôi, gọi bác, đức Thánh Trần Hưng Đạo, trong một bài thơ khi hắn viếng thăm đề thờ Trần Hưng Đạo như sau :

    Cũng cờ, cũng kiếm, cũng anh hùng.

    Tôi bác chung nhau nợ kiếm cung.

    Bác phá quân Nguyên thanh kiếm bạc.

    Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng.

    Bác đưa một xứ qua nô lệ.

    Tôi dẫn năm châu tới đại đồng.

    Bác có linh thiêng, cười một tiếng !

    Mừng tôi cách mạng đă thành công !

    Trong khi đó hắn gọi Lénine (1870-1924), K. Marx (1818-1883) là cụ trong Di chúc của hắn, cả hai sinh sau đức Thánh Trần cả sáu trăm năm, v́ Trần Hưng Đạo, có sử gia cho rằng ngàisinh vào năm 1232, chết vào ngày 3 tháng 9 năm 1300, Dương lịch. Khi gần chết, họ Hồ chỉ mơ ước gặp «cụ Mác, cụ Lê «như trong Di chúc hắn viết ; chứ không muốn gặp những anh hùng, liệt sĩ Việt Nam.

    Hồ chí Minh và con cháu hiện nay như Nông đức Mạnh, Phạm văn Đồng, Lê khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê đức Anh, không những vọng ngoại, mà c̣n dâng đất, nhượng biển cho Trung Cộng, biến Việt Nam thành một quận huyện của Trung Cộng, làm đất nước không những bị lệ thuộc về chính trị, ngoại giao, mà cả kinh tế và văn hóa, v́ hàng hóa, phim ảnh Trung Cộng tràn ngập thị trường Việt Nam.

    Cộng sản là một bọn giặc nước, giết người, cướp của, không những không có một tư ǵ là quốc gia, dân tộc, mà c̣n không có ǵ là xă hội chủ nghĩa, v́ theo đúng nghĩa, xă hội chủ nghĩa phải là một xă hội công bằng ; trong khi đó th́ xă hội Việt Nam hiện nay vô cùng bất công : Con ông cháu cha tiêu tiền vứt qua cửa sổ ; cán bộ, đảng đ̣an đánh những canh bạc, cá độ cả triệu đô la ; người dân th́ không có đến 1$ một ngày để sống, thợ thuyền phải đ́nh công v́ lương hàng tháng không tới 50$ ; 70 đến 80% dân Việt không dám đi nhà thương khi bệnh, v́ không có tiền.

    Xă hội bất công, tham nhũng lan tràn, lănh đạo «bất tài, bất lực, bất lương », như lời cựu đại tá cộng sản Phạm quế Dương nói ; đạo đức suy đồi, kỷ cương băng hoại, ḷng người oán than. Đó là bức tranh xă hội Việt Nam hiện thời. Người xưa có câu : «Dân như nước, quân như thuyền. Nước có thể chở thuyền ; nhưng nước cũng có thể lật thuyền "

    Thật vậy, nếu một chính quyền mà được ḷng dân, như thuyền đi xuôi ḍng nước, th́ dân sẽ hưởng ứng, giúp đỡ chính quyền. Nhưng một chính quyền đi trái ḷng dân, như thuyền đi ngược ḍng nước, th́ có ngày nước sẽ lật thuyền, như dân có ngày sẽ lật chính quyền. Đó là thế tất thua thứ nhất của cộng sản hiện nay.

    I I) Thế tất thua đến từ ngay trong ḷng chế độ.

    Trước t́nh trạng đất nứơc đau thương, bị cắt xén dâng cho ngoại bang, dân t́nh ca thán, nhiều người cộng sản, v́ lầm lẫn trước kia, đă rời bỏ hàng ngũ, đứng về phía quốc gia, dân tộc, như ông Hoàng minh Chính, cựu Viện trưởng viện Nghiên cứu Mác Lê, ông Phạm quế Dương, cựu đại tá cộng sản, cựu Tổng biên tập tạp chí Nghiên cứu lịch sử Quân đội Nhân dân, nhà văn Dương thu Hương và nhiều quân cán chính trẻ khác. Đảng cộng sản hiện nay bị phân tán trầm trọng. Chỉ dấu, đó là trước Đại hội X, đảng đă họp mười mấy lần trung ương, nhưng vẫn không đưa ra được đường lối xát thực, khả thi, trả lời đúng nguyện vọng của dân và t́nh h́nh đất nước; ngoài những khẩu hiệu cũ rích, nhưnhững câu thần chú, rỗng tuếch, đă được nhắc đi, nhắc lại cả hàng bao chục năm nay, như nội dung của Bản Dự thảo Chính trị cho Đại hội X vừa mới công bố.

    Ngay trong trung ương đảng, cũng có người thường nói: “ Nếu đi theo Trung Cộng, th́ mất nước; nhưng c̣n đảng. Nếu đi theo Tây phương, th́ mất đảng; nhưng c̣n nước.”Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay đang ở vào ngơ cụt. Đây cũng là sức ép thứ nh́ làm cho chế độ cộng sản sụp đổ.

    I I I) Thế tất thua thứ 3 của cộng sản đến từ t́nh h́nh chính trị thế giới, đến từ trào lưu văn hóa, văn minh của nhân loại

    Theo những nhà kinh tế, sử học và nhân chủng học, th́ nhân loại đă trải qua 5 thời kỳ văn minh : văn minh trẩy hái, tức thời kỳ con người mới xuất hiện, sống ở hang động và hái hoa quả, săn xúc vật quanh hang để sinh sống. Thế rồi hoa quả, xúc vật cũng trở nên khan hiếm, con người phải đi xa để kiếm ăn, đó là thời kỳ văn minh du mục. Rồi ngay dù đi xa kiếm ăn cũng khó khăn, con ngưới phải trồng cây lấy quả, nuôi xúc vật để sống. Con người bước sang văn minh định cư, nông nghiệp. Một điều không làm chúng ta ngạc nhiên, đó là những nền văn minh lớn của nhân loại thường phát xuất ở những đồng bằng các con sông lớn, như văn minh Ai Cập, ở đồng bằng sông Nil; Ấn Độ, ở sông Hằng v..v.., v́ ở những đồng bằng các con sông, đất phù sa tốt cho trồng trọt, có nước để tưới cây, cho xúc vật uống.Với nền văn minh định cư nông nghiệp này, con người có thể thỏa măn những nhu cầu thiết yếu như ăn mặc của ḿnh. Một khi những nhu cầu thiết yếu được thỏa măn, con người nghĩ đến những nhu cầu xa xỉ, nên nó đă trao đổi. Chẳng hạn khi nó trồng bắp, nhưng nó muốn ăn lúa ḿ th́ nó trao đổi với ngừơi trồng lúa ḿ. Nó biết dệt vải để mặc; nhưng nó thích lụa, th́ nó trao đổi với người dệt lụa. Chính v́ vậy mà chúng ta thấy có con Đường Tơ lụa, nối liền đông tây. Con người bước sang văn minh thương mại.Trong thời kỳ văn minh này, con người đă phát minh ra máy hơi nước, máy nổ, điện, điện thoại, máy điện toán (computer). Nhưng với điện thoại, máy điện toán, con người không cần đi xa để trao đổi. Con người bước sang nền văn minh thứ năm, văn minh trí thức, điện toán, chính là văn minh hiện nay. Trong 4 nền văn minh trước, sức mạnh bắp thịt, chân tay đă giữ vai tṛ quan trọng trong sản xuất kinh tế. Nhưng với nền văn minh trí thức điện toán ngày hôm nay, trí tuệ con người mới đóng vai tṛ quan trọng. Sự giàu có của một quốc gia không c̣n nằm trong ḷng đất với hầm mỏ, nhân công đông; mà chính là quốc gia đó có một đội ngũ trí thức, chuyên viên quan trọng hay không, nói một cách khác đó là quốc gia ấy có nhiều phát minh sáng kiến về khoa học, kỹ thuật, về quản trị kinh tế hay không. Sự giầu có do ngay chính đầu óc con ngừơi mà ra. Nhưng để có thể phát minh sáng kiến, quốc gia đó cần phải có mô h́nh tổ chức xă hội tự do, dân chủ, v́ chỉ dưới chế độ này, con người mới có thể trao đổi những học hỏi, công tŕnh nghiên cứu một cách dễ dàng, mới có phát minh. V́ vậy những chế độ độc tài là những chế độ đi ngược lại văn minh của nhân loại.

    Không những nó đi ngược lại văn minh nhân loại, mà nó c̣n đi trái lại chiến lược ngoại giao toàn cầu của thế giới tự do. Tổng thống G. Bush, trong bài diễn văn nhậm chức kỳ nh́, đă nhắc đi nhắc lại 42 lần chữ tự do, dân chủ. Bà ngoại trưởng C. Rice có nói: “ Một trong những nguyên tắc chính của một chánh sách ngoại giao đó là tự do, dân chủ và nhân quyền.” Không phải t́nh cờ khi Hội Đồng 46 nứơc Âu châu chấp nhận với 99 phiếu thuận, 42 phiếu chống Nghị quyết 1481 vào ngày 24/01/06 kết án chế độ cộng sản là độc tài, sát nhân, diệt chủng.

    Ngày hôm nay, chế độ cộng sản Việt Nam bị toàn thế giới lên án vi phạm nhân quyền. Điều này đă quá rơ và không thể nào chối căi. Chế độ này đi ngược chiều văn minh thế giới và trái lại chiến lược ngọai giao ṭan cầu của thế giới tự do. Đây là sức ép và cũng đồng thời là thế tất thua thứ ba của chế độ.

    *

    Đó là những thế tất thua của cộng sản. Nhưng cũng là những điều kiện khách quan. C̣n cần điều kiện chủ quan. Những người đấu tranh cho tự do, dân chủ vàdân tộc Việt Nam hăy noi gương những dân tộc Ba la, Đông Âu, Liên Sô, can đảm đứng lên đấu tranh để nắm bắt thời cơ. Năm 1978, khi vừa mới nhậm chức, Đức Giáo ḥang Jean Paul II, đă trở về Ba Lan, và đă đọc một bài diễn văn, trong đó có câu: “ Hăy can đảm, đừng sợ xệt và hăy hy vọng !" Tất nhiên trong ḥan cảnh nước Ba Lan lúc bấy giờ c̣n bị cai trị bởi độc tài cộng sản, ngài không thể nói nhiều; nhưng chúng ta phải hiểu rộng hơn: Hăy can đảm đứng lên đấu tranh, đừng sợ xệt độc đóan, độc tài, và chỉ như vậy mới có quyền hy vọng một đời sống tốt đẹp hơn cho chính ḿnh, cho con cháu ḿnh và cho quê hương, đất nước. Ngày hôm qua 12/03/06, tôi có vào “ Pal Talk”, trong“rơom” mang tên “ Trả lại tên thành phố Sài G̣n”, với sự có mặt của cha Nguyễn hữu Lễ, người đang vận động Phong trào này, “ rơom” rất đông, lên tới gần 300 người, có một cô phụ nữ, với tên hiệu (nickname) “ Hy Vọng”, phát biểu rất hay. Cô kết luận đại để như sau: “ Chúng ta đừng để sự sợ hăi trở thành thói quen và tập quán. Làm như vậy, chúng ta sẽ trở nên bạc nhược, làm cho bạo quyền ngồi trên đầu, trên cổ chúng ta ḥai ." Một câu nói thật ư nghĩa, làm tôi liên tưởng đến câu nói của anh Lư Tống, một người anh hùng đấu tranh cho tự do, dân chủ: “ Nếu chúng ta khom lưng, th́ cộng sản ngồi trên cổ. Nếu chúng ta đứng dậy, th́ cộng sản sụp đổ.”

    Thật vậy, dân tộc Việt hăy can đảm đứng lên đấu tranh, th́ lúc đó bạo quyền cộng sản mới không c̣n nữa, và mới có hy vọng ngày mai tươi sáng hơn .

    Paris ngày 13/03/2006

    Chu chi Nam

  • ĐỊA LÝ CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH VÙNG ĐÔNG NAM

    ĐỊA LƯ CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH VÙNG ĐÔNG NAM

    Chu chi Nam

    Nói đến vùng Đông Nam Á, chúng ta không thể không nói đến ṭan vùng Á châu và địa lư chiến lược vùng Đông Nam Á, mà khi nói tới địa lư, chiến lược, chính tri vùng này, chúng ta cũng không thể quên ảnh hưởng chính trị của các cường quốc thế giới trên vùng

    Vai tṛ quan trọng của Á châu và vùng Đông Nam Á

    Vai tṛ của Á châu trên lịch sử thế giới

    Trên một diện tích gần 1/3 đất nổi của quả địa cầu với 49.934.000km2, với một dân số hơn nửa dân số nhân lọai. Á châu là nơi mà người ta thấy những nền văn minh cổ kính nhất của nhân lọai xuất hiện. Nơi đó người ta đă khám phá ra những nguyên tắc đầu tiên của canh nông và chăn nuôi, là nơi phát xuất ra những tôn giáo chính của nhân lọai Do thái giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, ấn Độ giáo và Phật giáo ( Judaisme, Christianisme, Islam, Hindhouisme,Bhouhisme).

    Vai tṛ của vùng Đông Nam Á

    Vùng Đông Nam Á là vùng đi từ vịnh Bắc Việt tới vùng vịnh Bengale, một vùng đất bị đồi núi chia cắt ra làm nhiều mảnh. Nếu chúng ta lấy Équateur làm mốc điểm, th́ là một vùng đất đi từ phía bắc Équateur đến vĩ tuyến thứ 23, về phía nam, đi từ Équateur đến vĩ tuyến thứ 10. Bên kia eo biển Mă Lai là một vùNG QUẦn đảo dài hàng ngh́n cây số lập thành hai cung đảo : cung đảo Mă lai và cung đảo Moluques.

    Đông Nam Á gồm các nước sau đây :

    Miến Điện : 676 580km2 ; dân số : 47 749 000 ; Tổng sản lượng (TSL) : 83tỷ$, Sản lượng theo đầu người ( SLDN) : 1737$, như vậy là trên mức độ nghèo đói, v́ mức độ nghèo đói hiện nay là 900$ tính theo đầu người hàng năm.

    Brunei : Diện tích : 5770km2 ; dân số : 338 000 ; TSL : 7,57 tỷ$ ; SLDN : 22 402$.

    Nam Dương : Diện tích : 1 904 570km2 ; Dân số : 210 421 000 ; TSL : 113,54tỷ$ ; SLDN : 540$. Như vậy là một nước chậm tiến.

    Mă lai : Diện tích : 329750km2 ; Dân số :23 270 000 : TSL : 78,89 tỷ$ ;SLDN : 3 390$.

    Thái Lan : Diện tích : 513 120km2 ; Dân số : 60 729 000 ; TSL : 113,40tỷ$ ; SLDN : 1867$.

    Việt Nam : Diện tích : 331 690km2 ; Dân số : 78 522 700 ; 31,14tỷ$ ; SLDN : 397$. Như vậy theo tieu chuẩn của Cơ Quan Phát Liên Hiệp Quốc, th́ Việt Nam c̣n ở xa mức nghèo đói là 900$.

    Las : Diện tích : 236 000km2 ; Dân số : 5 279 000 ; TSL : 1,52ty$ ; SLDN : 287$. Quá chậm tiến.

    Căm bốt : Diện tích : 181040km2 ; Dân số : 12 021 230 ; TSL : 3,22tỷ$ ; SLDN : 268$. Quá chậm tiến.

    Trung Cộng ; Diện tích : 9 598 000km2 ; Dân số : 1 262 460 000 ; TSL : 1 141,87tỷ$ ; SLDN : 904$. Vừa vượt hàng rào nghèo đói.

    Kết Luận

    Đông Nam Á là vùng đất có sắc thái chính trị và văn hóa hết sức khác biệt. Sư( du nhập phong trào cộng sản từ thập niên 30, cùng với sự giành độc lập của các quốc gia trong vùng, sau Thế chiến thứ Nh́, nhất là sự hiện diện và thống trị của đảng CSVN ở « nước Đông Dương cùng chính sách lệ thuộc Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, muốn làm tiền đồn cộng sản trong vùng, đă làm cho vùng này bất ổn triền miên, có thể nói cho tới ngày hôm nay, mặc dầu Đệ Tam Quốc Tế CS và Liên Sô không c̣n nữa.

    Nh́n bản đồ Đông Nam Á, eo biển Mă Lai là con lộ ngắn nhất nối liền Ấn Độ Dương và Thái B́nh Dương, băng qua biển Nam Trung Quốc. Đó là con đường chuyên chở 85% dầu hỏa cần cho kỹ nghệ Nhật bản. Hải cảng chính của Singapour nằm ngay cửa của eo biển Mă Lai, là hải cảng lớn thứ 3 thế giới, tại đó có cả trăm hăng vận chuyển hàng hải lớn nhất thế giới và trung b́nh cứ 10 phút lại có một chiến tàu ra vào.

    Ng̣ai eo biển Mă Lai, các quần đảo Paracels và SparTley ( Trường Sa và Ḥang Sa) cũng là một điểm nóng gây ra tranh chấp trong vùng.

    Paris

    Chu chi Nam

  • CÁCH MẠNG HAY CẢI CÁCH CHO VIỆT NAM ?

    CÁCH MẠNG HAY CẢI CÁCH CHO VIỆT NAM ?

    Nh́n vào t́nh h́nh Việt Nam hiện nay, gần như tất cả mọi người đều đồng ư là phải có thay đổi. Nhưng thay đổi như thế nào? Thay đổi đến mức độ một cuộc cách mạng hay chỉ thay đổi trong ṿng cải cách ?

    Chúng ta hăy cùng nhau xem xét vấn đề.

    I) Cách mạng là ǵ ? Cải cách là ǵ ?

    Cách mạng là một cuộc thay đổi rộng lớn, có tính chất ṭan phần và mau lẹ. Trong khi đó cải cách là một cuộc thay đổi nhỏ, có tính cách bán phần và chậm. Trền phương diện chính trị và xă hội, cách mạng nhằm thay đổ cả một chế độ. Trong khi đó, cải cách vẫn duy tŕ chế độ và chỉ chủ trương thay đổi một vài cơ chế nhỏ của chế độ. Nh́n theo b́nh diện cơ cấu, cách mạng chủ trương thay đổi 3 cơ cấu chính của một xă hội. Đó là: thể chế chính trị, giai tầng lănh đạo và trật tự hiện hành của xă hội đó. Trong khi cải cách chủ trương vẫn giữ thể chế chính trị, giai tầng lănh đạo và trật tự xă hội; nếu có thay đổi là thay đổi một vài cơ cấu nhỏ, một vài nhân sự của chế độ này.

    I I) Việt Nam hiện nay cần cách mạng hay cải cách ?

    Từ định nhĩa trên, một câu hỏi đến với chúng ta là Việt Nam hiện nay cần cách mạng hay cải cách ?

    - Xin thưa : Việt Nam hiện nay cần một cuộc cách mạng. Tại sao ?

    - Như trên đă nói, cách mạng nhằm thay đổi 3 cơ chế chính của một xă hội: thể chế chính trị, giai tầng lănh đạo và trật tự xă hội.

    Thể chế chính trị Việt Nam hiện nay, theo tinh thần bản Hiến pháp hiện hành 1992, Lời Mở Đầu : “ Hiến pháp này qui định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xă hội, quốc pḥng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và họat động của các cơ quan Nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lănh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lư .”, và điều 4 : “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưỏng Hồ chí Minh, là lực lượng lănh đạo Nhà nước và xă hội.” Ở đây chúng ta không đi xâu vào vấn đề lạm dụng danh nghĩa, lạm dụng danh từ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tự cho ḿnh là đại biểu trung thành của giai cấp công nhân và hơn thế cữa của ṭan thể nhân dân, nhưng trên thực tế th́ chẳng bênh vực ǵ quyền lợi công nhân, chẳng nghĩ ǵ đến dân, đến nước; hay việc chơi chữ, nói nhân dân làm chủ mà không có quyền lănh đạo và quản lư, th́ làm chủ ở chỗ nào. Chúng ta chỉ nói đến lư thuyết Mác-Lenin và tư tưởng Hồ chí Minh được coi là nền tảng của chế độ. Về tư tưởng Hồ chí Minh, th́ chính ông ta đă nhiều lân tuyên bố tôi chẳng có tư tưởng ǵ cả, tư tưởng của tôi đă có Marx, Lénine và Mao nghĩ hộ. Vào năm 1920, khi tham dự hội nghị Tours ở Pháp, ông nói ông không ở tŕnh độ phân biệt nổi Đệ Nhị và Đệ Tam Quốc tế Cộng sản. ( Xin xem thêm Những Mẫu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch – Tác giả Trần dân Tiến -Nhà Xuất Bản Sự Thật – Hà nội - năm 1950). Trần dân Tiến chính là Hồ chí Minh.Một chế độ mà dựa trên nền tảng một cái ǵ không có. Điều này không cần bàn tới. Về lư thuyết Marx và Lénine, kinh nghiệm thực tế của tất cả các chế độ cộng sản, từ ngày thành lập chế độ đầu tiên ở Nga Sô năm 1917 cho tới nay c̣n rơi rớt lại 4 chế độ là Cộng sản Việt Nam, Trung Cộng, Bắc Hàn và Cuba, cho chúng ta thấy lư thuyết Marx, Lénine không những không tưởng, mà c̣n phản kinh tế, phản dân chủ, phản phát triển, nếu áp dụng th́ chẳng khác nào “Đẽo chân để đi vừa giàỷ” làm cho tất cả mọi xă hội sống dưới chế độ cộng sản trở nên què quặt. ( Xin xem thêm những bài viết của tác giả bài này với bút hiệu Trực Ngôn hay Chu chi Nam, trên báo http://anhduong.net , http://www.danchu.net, http://www.conong.com, http://chuchinam.tripod.com/ , như những bài Phê B́nh Lư Thuyết của Marx; Sự Hồ Đồ của Marx Theo K. Popper; Con Người Thần Thánh, Thương Dân Yêu Nước Trần Hưng Đạo Và Con Người Gian Manh, Quỉ Quyệt, Buôn Dân Bán Nước Hồ Chí Minh; Sự Phá Sản Của Cách Mạng Cộng Sản; Cách Mạng Tất Yếu Không Xảy Ra Ở Những Nước Tư Bản, Mà Cách Mạng Tất Yếu Đă Xảy Ra Và C̣n Xảy Ra Ở Những Nước Cộng Sản v.v…). Một chế độ dựa trên nền tảng một cái ǵ không có là tư tưởng Hồ chí Minh, một lư thuyết phản khoa học, phản kinh tế, phản dân chủ, phản tiến bộ, không tưởng như tư tửong Marx-Lènine, th́ hỏi rằng chế độ đó là chế độ ǵ, phục vụ cho ai? Bởi lẽ đó Việt Nam hiện nay cần phải thay đổi chế độ cộng sản hiện thời, bắt đầu bằng cách thay thế hiến pháp hiện hành chủ truơng độc khuynh, độc đảng, độc tài bằng một hiến pháp chủ trương đa khuynh, đa đảng, tự do, dân chủ.

    Về giai tầng lănh đạo Việt Nam hiện nay ? - Không riêng ǵ những người không cộng sản, người dân, mà cả ngay những người cộng sản cấp thấp và những người cộng sản phản tỉnh, ai cũng thấy đây là một giai tầng đặt nặng quyền lợi của một thiểu thiểu số đảng đ̣an lên trên quyền lợi quốc gia dân tộc, một giai tầng buôn dân, bán nước. Nói như cựu đại tá cộng sản, cựu tổng biên tập tờ báo Nghiên Cứu Lịch sử Quân đội Nhân dân Phạm quế Dương: “ Cộng sản vừa bất tài, bất lực và bất lương”. Theo nữ văn sỹ Dương thu Hương th́: “ Dân Việt Nam dầu có mù chữ chăng nữa cũng nh́n thấy mặt của giới lănh đạo cộng sản vừa tối tăm, ngu dốt, vừa ác ôn, côn đồ và hèn hạ.” Bởi lẽ đó cơ chế thứ nh́ mà một cuộc cách mạng chủ trương là thay thế giai tầng lănh đạo thiếu tài, thiếu đức hiện nay, do đảng cộng sản chỉ định, bằng một giai tầng lănh đạo có tài, có dức, do người dân chỉ định, qua những cuộc bầu cử tự do, dân chủ thực sự. Có những người trí thức hay lănh đạo cộng sản đưa ra những luận điệu theo đó dân tộc Việt Nam chưa đủ tŕnh độ để bầu tự do. Điều này ḥan toàn sai. Hiện nay có vào khoảng 200 quốc gia trên thế giới, phần lớn đều theo chế độ dân chủ, người dân tự do bầu người lănh đạo của ḿnh. Không lẽ dân tộc Việt lại thấp hèn thế sao ?

    Cơ chế thứ ba mà một cuộc cách mạng ở Việt Nam cần thay đổi đó là trật tự hiện hành. Đây là một trật tự vô cùng bất công. Đại đa số dân Việt không có lấy một đô la một ngày để sống. Trong khi đó th́ đảng đoàn, cán bộ, con ông cháu cha tiêu tiền vứt qua cửa sổ, tiêu cả ngàn đô la trong những vũ trường, hộp đêm, đánh những canh bạc cả trăm ngàn đô la. Tiền đó do đâu mà ra? Là do tham những, hối lộ, hút máu mủ của dân. 70% dân Việt hiện nay không dám đi bác sĩ, nhất là đi nhà thương, v́ không có tiền. Chưa bao giờ dân Việt lại lầm than như ngày hôm nay dưới trật tự cộng sản. Cả bốn chục ngàn trẻ em, có em chưa đầy 10 tuổi phải bán thân nuôi miệng ở bên Căm bốt. Cả trăm ngàn chị em phụ nữ phải lấy chồng Đài Loan v́ nghèo túng. Đó là trật tự cộng sản đó hả? Theo đúng nghĩa, th́ trật tự cộng sản phải là trật tự công bằng mà. V́ vậy, mục đích thứ ba của cuộc cách mạng là phải thay thế trật tự bất công cộng sản hiện nay bằng một trật tự công bằng hơn.

    I I I ) Những luận điệu phản bác lại cách mạng

    Có một số trí thức và một số lănh đạo cộng sản, v́ tham quyền cố vị, v́ đặc ân, đặc lợi, đă đưa ra luận điệu : Nếu chúng ta làm cách mạng có nghĩa là bạo động, sẽ đưa dân đến cảnh nồi da, xáo thịt, cảnh thập nhị xứ quân. Luận điệu này ḥan ṭan sai. Cách mạng không nhất thiết phải là bạo động. Hăy nh́n những cuộc cách mạng tự do, dân chủ ở Liên Sô, Đông Âu, ở Nam Dương, Phi Luật tân, có đổ máu, bạo động đâu. Tất nhiên ở Việt Nam trong tương lai, việc này c̣n tùy thuộc ở thái độ biết điều hay không của giới lănh đạo chóp bu cộng sản. Ở đây tôi chỉ muốn nói cách mạng không nhất thiết là bạo động và đổ máu. Hơn thế nữa, hiện nay dân tộc Việt đang sống dưới cảnh nồi da xáo thịt, thập nhị xứ quân do Đảng Cộng sản gây ra. Những em bé phải làm khẩu dâm ở Căm Bốt, người dân không có tiền đi bác sĩ, những chị em phụ nữ phải đi lấy chồng Đài loan, đi xuất cảng lao động, hay phải làm ở những hăng xưởng ngoại quốc ngay ở Việt Nam, và bị hành hạ bởi những ông tư bản trắng toa rập với những tư bản đỏ Việt nam, đó là cảnh nồi da xáo thịt. Làm cách mạng để chấm dứt t́nh trạng đó, chính là chấm dứt t́nh trạng nồi da xáo thịt. Thêm vào đó, dân Việt hiện nay đang sống dưới cảnh không phải là thập nhị xứ quân, mà là cả trăm xứ quân. Các ông tỉnh ủy, huyện ủy cộng sản là những xứ quân, tha hồ ḥanh hành, ḅn rút, bóc lột, hà hiếp dân bằng đủ mọi cách, thông đồng với các con buôn ngoại quốc để thuồn hàng lậu, bóp chết kinh tế của dân, thông đồng với mafia ngoại quốc buôn bán ś ke, ma túy, làm hại sức khỏe của dân, nhất là giới trẻ. Lám cách mạng chấm dứt t́nh trạng náy, chính lá chấm dứt cảnh thập nhị xứ quân.

    IV) Cách mạng độc lập cứu quốc và cách mạng dân chủ kiến quốc

    Nh́n từ một b́nh diện khác, th́ Việt Nam hiện nay cần một cuộc cách mạng với 2 mục đích chính : đó là cách mạng độc lập cứu quốc và cách mạng dân chủ kiến quốc. Tại sao vậy ?

    - V́ Việt Nam hiện nay không có độc lập. Từ ngày Hồ chí Minh và Đảng Cộng sản cứơp chính quyền vào năm 1945 tới nay, chế độ cộng sản không có độc lập, ngày xưa th́ lệ thuộc Liên Sô; sau khi Liên Sô sụp đổ, th́ lệ thuộc Trung Cộng. Cộng sản Việt Nam hiện nay về chính trị ngoại giao th́ hoàn toàn lệ thuộc Trung Cộng. Thệm tệ hơn nữa là chúng c̣n dâng đất nhượng biển cho Trung Cộng, ngay từ thời Hồ chí Minh, qua bức thư đề ngày 14/9/1958, chỉ 6 ngày sau yêu sách của Trung Cộng, của Pham văn Đồng trả lời thỏa măn yêu cầu hải phận 12 hải lư cho Chu ân Lai, có nghĩa là gián tiếp dâng quần đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng. Sau này con cháu Hồ, qua hiệp ước năm 1999 và 2000, đă dâng gần 1 000 km2 đất liền, trong đó có ải Nam Quan và thác Bản Giốc, cùng cả chục ngàn cây sống vùng biển cho Trung Cộng. Không những bị lệ thuộc về ngoại giao mà c̣n bị lệ thuộc về kinh tế và văn hóa. Hiện nay 70% hang hóa trên thị trường Việt Nam là đến từ Trung Cộng. Phim ảnh trung Cộng tràn ngập thị trường Việt Nam. Trên thực tế, Việt Nam hiện nay là một quận huyện của Trung Cộng. V́ vậy phải cần có một cuộc cách mạng giành lại chủ quyền cho quốc gia dân tộc. Đó là cuộc cách mạng độc lập cứu quốc.

    Cuộc cách mạng độc lập cứu quốc cần phải tiến hành song song với cuộc cách mạng dân chủ kiến quốc, v́ dân chủ là mảnh đất mầu mỡ để phát triển kinh tế nẩy mầm. Một con người bất cứ da vàng, da đỏ hay da trắng, da đen, có thể ví như một hạt mầm. Nếu nó được gieo vào một mảnh đất tốt, đó là một chế độ dân chủ, do dân bầu ra, lo cho quyền lợi của dân, th́ hạt mầm đó sẽ nẩy mầm, đâm hoa, kết trái; ngược lại, nếu nó bị gieo vào một mảnh đất khô cằn, đầy sỏi đá như sống dưới một chế độ độc đoán, độc tài, giới lănh đạo không do dân bầu, không nghĩ đế quyền lợi của dân, mà c̣n lo trấn lột dân, th́ hạt mầm đó không thế nẩy mầm, nếu có th́ cũng c̣i trẹt. Thí dụ rơ rang là hai nước Đại hàn và Việt Nam cùng với cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Bắc Hàn sống dưới chế độ độc tài cộng sản, dân đang chết đói. Nam Hàn sống dưới chế độ tự do, dân chủ, là cường quốc kinh tế thứ 10 trên thế giới. Tổng sản lượng của hơn 3 triệu người Việt hải ngoại sống dưới những chế dân chủ là 100 tỷ đô la. Trong khi đó tổng sản lượng của 82 triệu người Việt sống dưới chế độ độc tài cộng sản là 40 tỷ đô la. Dân chủ không những là mảnh đất mầu mỡ để cho phát triển kinh tế nẩy mầm, mà tất cả mọi ngành. Cách đây mấy năm, viện Nghiên Cứu Giáo dục, Khoa học và kỹ thuật Hoa kỳ Rockefellor, có chi nhánh ở Úc, có làm một cuộc nghiên cứu thống kê về những phát minh sáng kiến của các nước Đông Nam Á, trong đó có cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, đă đi đến kết quả: Thái Lan có 6 500 phát minh sang kiến, Singapour có 7500, Việt Nam có 280, cộng đồng người Việt ở hải ngoại có tới 14 000 gấp 50 lần 82 triệu người ở trong nước.

    Nh́n vào lịch sử các cuộc cách mạng từ cổ chí kim trên thế giới, cuộc cách mạng Hoa Kỳ 1776 là cuộc cách mạng thành công nhất, v́ nó đă đạt được 2 mục đích chính, cách mạng độc lập cứu quốc và cách mạng dân chủ kiến quốc. Nó đă đưa nước Hoa Kỳ thoát khỏi ách đô hộ của Anh. Đồng thời nó đă đặt nền tảng dân chủ giúp dân tộc Hoa Kỳ, mặc dầu là tạp chủng, mà có thể tiến vượt bực, như chúng ta thấy ngày hôm nay.

    T́nh trạng lệ thuộc Trung Cộng và độc tài của Việt Nam hiện nay đ̣i hỏi một cuộc cách mạng như cách mạng 1776 Hoa Ky. Tất nhiên lịch sử không thể hoàn toàn lập lại hay xuất cảng; nhưng chúng ta cũng phải nghiên cứu để học hỏi, noi theo.

    V) Thái độ của những nhà đấu tranh dân chủ trong nước đối với cách mạng và cải cách

    Nói một cách tổng quát, không đi vào từng cá nhân, th́ chỉ có một số ít những nhà đấu tranh dân chủ ở trong nước chủ trương cách mạng, có nghĩa là thay đổi thể chế chính trị, giai tầng lănh đạo và trật tự xă hội hiện nay; c̣n phần lớn chỉ chủ trương cải cách, tức là vẫn giữ thể chế chính trị cũ và kêu gọi một vài thay đổi nhỏ, thứ yếu, chứ không phải trọng yếu. Không biết đó là v́ họ chưa nắm vững vấn đề, hay c̣n vướng mắc bởi quá khứ, bởi tuyên truyền cộng sản, hoặc v́ lư do hoàn cảnh và chiến thuật.

    Quan sát thái độ của những nhà đấu tranh dân chủ ở Liên Sô và Đông Âu trước đây, chúng ta thấy họ có một thái độ dứt khoát chủ trương cách mạng. Giới trí thức và sinh viên Liên Sô không dạy và không học những giờ về lư thuyết Mác Lê. Những con người như Sakharov, cha để của bom nguyên tử Liên Sô, 2 lần được huy chương Lénine, thế mà dám từ bỏ những đặc ân, đặc lợi, để nói lên sự thật, dù có phải ngồi tù. Việt Nam hiện nay cũng đă có những người như vậy, nhất là trong giới trẻ. Nhưng cần phải đông hơn nữa, và ngay dù v́ hoàn cảnh hay chiến lược, chiến thuật, những nhà đấu tranh cho dân chủ ở trong nước hăy tự biết rằng Việt Nam hiện nay đang bị con bệnh trầm kha cộng sản phá hoại thân thề, để cứu Việt Nam phải cần liều thuốc mạnh, đó là cách mạng; c̣n liều thuốc nhẹ như thuốc cảm, dầu cù là, tức cải cách, th́ không thể nào chữa khỏi.

    Một cuộc cách mạng cho Việt Nam hiện nay là một cuộc cứu rỗi cho dân tộc Việt. Nhưng bất cứ cuộc cứu rỗi nào cũng bắt đầu bằng tự cứu. “ Hăy tự giúp anh, rồi trời se giúp anh". ( Aide - toi, le Ciel t’aidera ). Cũng như một câu trâm ngôn Ai Cập : « Nếu anh muốn người ta cứu anh thóat khỏi vực thẳm, th́ ít nhất, anh cũng phải có cố gắng bám chặt vào sợi dân tḥng xuống cứu anh. » Dân tộc Việt Nam hiện nay đang ở dưới bờ vực thẳm do cộng sản gây ra. Dân Việt găy tự cứu ḿnh trước tiên. Can đảm đứng lên làm cách mạng. Nhất là giới trẻ, thanh niên, sinh viên, học sinh và trí thức. Tại sao các dân tộc khác họ làm được ? Không lẽ dân tộc Việt Nam lại yếu hèn, chịu ngồi bó tay dưới bờ vực thẳm hay sao ?

    Ba lê 04/10/2005

    Chu chi Nam

  • Đấu Tranh Đúng Chiều Hướng

    CÔNG CUỘC ĐẤU TRANH CHO TỰ DO DÂN CHỦ CỦA CHÚNG TA ĐANG ĐI ĐÚNG CHIỀU HƯỚNG LỊCH SỬ VĂN MINH, HỢP L̉NG NGƯỜI, HỢP L̉NG DÂN, NHẤT ĐỊNH THÀNH CÔNG
    Chu chi Nam

    Công cuộc đấu tranh của chúng ta ngày hôm nay là một công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, để những quyền căn bản của dân Việt từ những quyền tự do đi lại, ngôn luận, tư tưởng, tín ngưỡng đến quyền tự do tư hữu, kinh tế, chính trị, hiệp hội, nghiệp đoàn phải được tôn trọng. V́ vậy cuộc tranh đấu này phải qua cửa ngơ lật đổ chế độ độc đoán cộng sản hiện nay. Đó là:

    I) Một cuộc tranh đấu đi đúng chiều hướng lịch sử, văn minh nhân loạn

    Người cộng sản cho rằng nhân loạn trải qua năm thời kỳ:
    1) thời kỳ cộng sản nguyên thủy,
    2) thời kỳ nô lệ,
    3) thời kỳ phong kiến,
    4) thời kỳ tư bản và
    5) thời kư cộng sản..
    Nhưng một cách khác, có những sử gia, kinh tế gia, chia lịch sử nhân loạn ra làm 5 thời kỳ văn minh minh: 1) văn minh trẩy hái, mà chúng ta có thể gọi là thời kỳ ăn lông ở lỗ, con người hái trái cây, săn bắn chung quanh hang để sống; nhưng rồi cây quả, thú vật cũng trở nên khan hiếm, con người phải đi xa để t́m kiếm. Con người bước sang thời kỳ văn minh thứ nh́, đó là văn minh du mục. Cực điểm của thời kỳ này người ta có thể nói là thời đế quốc Mông Cổ với Thành Cát Tư Hăn, mà con cháu đă bị đánh bại 3 lần ở Việt Nam vào thế kỷ thứ 13.

    Nhưng dù đi xa để kiếm ăn, thức ăn cũng không c̣. Con người bắt buộc phải trồng trọt, chăn nuôi để sống. Con người bước sang thời kỳ văn minh thứ 3, văn minh nông nghiệp hay c̣n gọi là văn minh định cư. Những nền văn minh lớn của nhân loạn như văn minh Ai cập phát xuất từ đồng bằng sông Nil, văn minh Ấn Độ phát xuất từ sông Grange, văn minh Tàu từ sông Dương Tử, v́ đất phù sa th́ mầu mỡ tốt cho trồng trọt, đông thời có nước để tưới cây, cho súc vật uống. Với văn minh định cư nông nghiệp, con người có thể thoả măn những nhu cầu cần thiết (besoins nécessaires). Một khi những nhu cầu cần thiết đă được thoả măn, con người nghĩ tới những nhu cầu không cần thiết, xa xỉ (besoins non nécessaires, besoins de luxe), v́ vậy con người cần phải trao đổi, trao đổi cái ḿnh làm ra với cái mà người khác làm ra.
    Một thí dụ cụ thể để dễ hiểu: nếu tôi có thể trồng lúa, nuôi gà, nhưng tôi muốn ăn lúa ḿ và thịt vịt, th́ tôi đổi lúa gạo với người chăn nuôi vịt và trồng lúa ḿ. Con người bước sang thời kỳ văn minh thương mại. Dấu tích lớn của văn minh thương mại là con Đường Tơ Lụa (Route de la Soie). Với văn minh thương mại, con người đă phát minh ra máy hơi nước, máy nổ, xe lửa, xe hơi, máy bay, điện, rồi máy điện toán. Nhưng với téléphone, máy điện toán, con người không cần đi xa mà chỉ cần cầm cái téléphone, ngồi trước máy điện toán để trao đổi. Con người bước sang nền văn minh thứ 5, đó là văn minh điện toán, mà người ta c̣n gọi là văn minh tri thức điện toán. Tri thức, phát minh, sáng kiến, điện toán đă giữ một vai tṛ quan trong trong tất cả các khâu của sản xuất kinh tế từ lúc sáng lập xí nghiệp, sản xuất hàng hóa đến lúc phân phối, bán hàng hóa trên thị trường.
    Văn minh tri thức và điện toán bắt buộc phải có mô h́nh tổ chức nhân xă tự do dân chủ và kinh tế thị trường, v́ chỉ có dưới chế độ dân chủ, tự do con người mới có thể trao đổi những ư kiến, tư tưởng, những công tŕnh nghiên cứu, mới có những tri thức, phát minh, sáng kiến.
    V́ vậy công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ của chúng ta chống lại nhà cầm quyền CSVN đang đi đúng chiều hướng của văn minh nhân loạn.

    Thật vậy, nhân loạn đă ra khỏi thời kỳ văn minh định cư nông nghiệp với sức lao động bắp thịt chân tay làm chính để bước vào cuộc cách mạng kỹ nghệ thứ nhất với sự dùng máy móc chạy bàng hơi nước để khai thác tài nguyên thiên nhiên, từ đầu thế kỷ thứ 18 tới cuối thế kỷ thứ 19.

    Sang thế kỷ thứ 20 và cho đến giữa thế kỷ này, con người đă dùng máy nổ để cách mạng hóa công nghiệp. Cuộc cách mạng thứ ba là cuộc cách mạng hậu công nghiệp bắt đầu từ giữa thế kỷ 20 cho tới ngày hôm nay, với sự xuất hiện máy điện toán thô sơ được dùng lúc đầu trong quân sự sau đó được hoàn hảo và được dùng trong lănh vực sản xuất kinh tế. Nhờ vậy mà khác với h́nh thức sản xuất dây chuyền của Taylor vào thời công nghiệp phôi thai, người ta chuyển dân từ phương thức qui mô, đại chúng, sản xuất hàng loạt những hàng hóa có tính chất đồng dạng, sang những phương thức sản xuất nhỏ, gọn, nhẹ, với máy điện toán, tri thức, thông minh hơn, nhằm cung cấp những hàng hóa mang tính chất cá biệt, cho một thị trường càng ngày càng phân tán nhỏ, đ̣i hỏi hơn, nhằm thoả măn nhu cầu của dân ngày càng khó khăn và tinh tế hơn..

    Ở thời kỳ văn minh tri thức điện toán ngày hôm nay, sản xuất kinh tế đă chuyển từ bắp thịt lên trí năo. Những động tác rập khuôn, dây chuyền của thời công nghiệp được thay thế bởi những công việc tinh vi hơn, đ̣i hỏi tri thức và phát minh sáng kiến nhiều hơn. Với thời kỳ văn minh này, với cuộc cách mạng tín học điện toán, trong ṿng hai ba chục năm gần đây, mà người ta c̣n gọi là cách mạng trí tuệ, yếu tố quyết định trong sản xuất kinh tế không chỉ c̣n là những đất đai, hầm mỏ năm trong ḷng đất hay tiền bạc do cha mẹ, ông bà để lại, mà sự giầu có lại nằm chính trong đầu óc con người, với những phát minh sáng tạo. Trong vấn đề quản trị xí nghiệp ngày hôm nay, thông tin và kiến thức, được coi như uy quyền và ảnh hưởng, không c̣n được chuyển theo hàng dọc, từ trên xuống dưới với những hạn chế và gạn lọc, mà ngược lại được chuyển tối đa theo hàng ngang, để mọi người, mọi thành phần trong xí nghiệp có thể theo dơi đời sống của xí nghiệp, tham gia tích cực vào cuộc sống của xí nghiệp.

    II) Công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ chống độc tài của chúng ta đang đi đúng chiều hướng chiến lược chống khủng bố, dân chủ hóa thế giới, kinh tế toàn cầu của các cường quốc trên thế giới.

    - Phía Hoa Kỳ: Ngày 17/9/02, một năm một tuần lễ sau ngày khủng bố không tặc 11/9/01 trung tâm Thương Mại, Nữu Ước, tổng thống Hoa Kỳ G. W. Bush cho công bố một tài liệu của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, mang tên là Chiến Lược An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ. Đây là một tập tài liệu dày vào khoảng 33 trang bằng tiếng Anh, là một công tŕnh nghiên cứu từ lâu của một số trí thức mà có rất nhiều người hiện giữ chức vụ quan trọng trong chính quyền. Nếu chúng ta đọc kỹ, th́ chúng ta thấy những nguyên nhân xâu xa đưa đến tài liệu này, như tư tưởng của Francis Fukuyama về mô h́nh tổ chức nhân xă dân chủ tự do và kinh tế thị trường, trong quyển sách Sự kết Thúc Lịch sử và Con Người Cuối cùng (The End of the History and the last Man); và ảnh hưởng gần trên tập tài liệu chiến lược này là tư tưởng chiến lược của đương kim Thứ Trưởng Bộ Quốc Pḥng Paul Wolfowitz, trong tài liệu Hướng Dẫn Kế hoặch Quốc Pḥng (the Defense Planning Guidance) viết vào năm 1992. Đấy là chưa nói đến ảnh hưởng cá nhân của tổng thống Bush, ngoạn trưởng C. Powell, bộ trưởng quốc pḥng D. Rumfelt và cố vấn an ninh C. Rice.

    Mục đích ngắn hạn của Chiến Lược An Ninh Hoa Kỳ là nhằm tiêu diệt khủng bố. Hai ngày sau cuộc khủng bố ngày 11/9/2001, ông P. Wolfowitz tuyên bố: « Tôi nghĩ đă đến lúc chúng ta phải nhận ra rằng vấn đề chống khủng bố không chỉ đơn thuần, đơn giản trong việc bắt giữ khủng bố hay xét xử họ, mà c̣n phải tẩy chay, và nhất là hóa giải những cơ cấu hậu thuẫn khủng bố, kể cả những chế độ giúp đỡ khủng bố. »; và ngày 20/9/2001, tổng thống Bush tuyên bố: « Kể từ nay, những quốc gia nào hậu thuẫn hay cung cấp nơi ẩn náu cho khủng bố, chúng ta sẽ coi quốc gia đó là thù nghịch. V́ vậy, tất cả các quốc gia, ở bất cứ nơi nào trên thế giới, hăy tự quyết định cho ḿnh: Là đồng minh của Hoa Kỳ hay là đồng minh của khủng bố. »

    Mục đích dài hạn của Chiến Lược An Ninh Hoa Kỳ là làm thế nào để thực hiện mô h́nh tổ chức nhân xă dân chủ tự do, kinh tế thị trường, v́ những chế độ độc tài là mầm mống là ổ nuôi dưỡng khủng bố. Cũng trong bài diễn văn ngày 20/09/2001, tại lưỡng Viện, G.W. Bush tuyên bố về chính sách ngoạn giao lâu dài của Hoa Kỳ: « Chiến tranh mang đến sự sợ hăi; nhưng đồng thời chiến tranh cũng mang đến dân chủ tự do. Sự tiến bộ của tự do dân chủ nhân loạn, thành quả vĩ đại nhất của thời đại chúng ta, và cũng là hy vọng cao cả nhất của mọi thời đại, hiện đang tùy thuộc vào chúng ta. Đất nước chúng ta, thế hệ chúng ta hôm nay sẽ có bổn phận xua tan khỏi nhân loạn, khỏi thế giới bóng đêm thù nghịch của khủng bố và của độc tài.... Chúng ta theo đuổi mục đích cao cả dân chủ tự do một cách cương quyết, không mệt mỏi, cho tới khi nào dân chủ tự do toàn thắng trên toàn thế giới. »

    Về phía Cộng Đồng Âu Châu, hiện tượng các vị Nghị Sĩ của Quốc Hội Âu châu gặp Phan văn Khải gần đây đặt điều kiện về nhân quyền mới đầu tư và giúp đỡ VN, chúng tỏ là họ đang giúp cách này hay cách khác chúng ta.

    V́ vậy chúng ta có thể nói công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, chống độc tài của chúng ta đang được cộng đồng thế giới ủng hộ.

    III)Công cuộc đấu tranh của chúng ta đang hợp ḷng dân.

    Thật vậy, công cuộc đấu tranh của chúng ta ở quốc nội cũng tiến triển tốt đẹp. Chính v́ vậy mà CSVN tăng cường đàn áp, quản thúc người này, bắt giam người nọ, xử án, bỏ tù người kia. Tuy nhiên tất cả những công cuộc đàn áp của bạo quyền đă trở nên vô hiệu quả. Có người nói tuổi trẻ và dân Việt thờ ơ với chính trị và vận nước. Điều đó hoàn toàn sai. Chính tờ báo Tuổi Trẻ, xuất bản vào đầu năm 2003, đă làm một cuộc thăm ḍ ư dân và tuổi trẻ, th́ 89% dân và giới trẻ đều đồng ư là phải dân chủ hóa chế độ và chống tham nhũng. Dân và giới trẻ đă nh́n thấy tử huyệt của cộng sản để đấu tranh. Họ không nói thẳng rằng các ông lănh đạo CS chúng tôi chống các ông, nhưng nói gián tiếp là chống tham nhũng v́ 70% tham nhũng là cán bộ CS cao cấp. Dân không nói thảng: Các ông lănh đạo chúng tôi chống các ông v́ các ông độc tài, nhưng nói là họ ước muốn dân chủ.

    Đồng bào trong nước c̣n nh́n thấy hành động bán nước hại dân của CSVN. Thật ra th́ từ lâu CSVN đă dâng đất cho Trung Cộng. Ngay từ năm 1953, khi sửa chữa đường xe lửa Việt Hoa, Trung Cộng đă tự ư dời những cột mốc biên giới về phía nam, lấy đất của chúng ta. CSVN lúc đó có phản đối, nhưng phản đối cho lấy lệ. Năm 1958, Phạm văn Đồng viết thư cho Chu Ân Lai công nhận yêu sách hải phận 12 hải lư của Trung Công, và như vậy là đă dâng quần đảo của Vn cho Trung Quốc.

    Việc dâng đất nhượng biển cho Trung Quốc đă đặt quân đội vào trong một t́nh trạng khó xử. Nhiệm vụ của quân đội là bảo vệ sự an ninh của dân và sự toàn vẹn lănh thổ. Nay một thiểu số đạo đem giang sơn đi dâng hiến ngoạn bang, v́ cố bám víu vào quyền hành. Nếu quân đội im lặng, th́ làm trái lại nhiệm vụ của ḿnh, nếu lên tiếng th́ phải chống lại thiểu số cầm quyền. Và đă có những người dám lên tiếng như tướng Trần Độ và đại tá Phạm quế Dương.

    Công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, chống lại chế độ độc tài CS hiện nay đang đi đúng chiều hướng văn minh của nhân loạn, đúng chiều hướng chiến lược toàn cầu của các nước trên thế giới, hợp ḷng người, hợp ḷng dân, chắc chắn se đưa chúng ta tới thành công.

    Paris ngày 03/07/03

    Chu chi Nam

  • CHIẾN THẮNG CỦA NHỮNG NGƯỜI MAN DẠI

    NHÂN NGÀY 30 THÁNG TƯ,
    NGẪM LẠI CHIẾN THẮNG CỦA NHỮNG NGƯỜI MAN DẠI

    Chu chỉ Nam

    « Từ độ người về hỡi loài man dại !

    Dẫu vô tri sỏi đá cũng buồn đau.

    Tiếng thở dài vang tận đáy sông xâu.

    Màu đỏ oan cừu hành hung phố chợ. »

    ( Vũ hoàng Chương)

    Nhân ngày 30 tháng tư, chúng ta cũng nhau suy ngẫm về « chiến thắng » của những người cộng sản. Nhà văn Dương thu Hương, cùng đoàn quân, tới Sài g̣n liền sau « ngày chiến thắng », thấy cảnh sung túc và cuộc sống văn minh của miền Nam, bà đă t́m một góc phố, hẻo lánh, ngồi xuống, bật tiếng khóc, theo như lời bà kể, và than lên : « Tôi đă cùng đoàn quân chiến thắng. Nhưng kẻ chiến thắng chính là những kẻ man rợ ; c̣n người chiến bại, chính là những người văn minh ! »

    Thật vậy, trong lịch sử, những kẻ man dại chiến tháng người văn minh cũng không phải là không có. Nhưng đó chỉ là chiến thắng của những kẻ vũ phu, chứ không phải chiến thắng của lư trí, của lẽ phải, của lương tâm và lương tri con người, như một cau trâm ngôn Pháp nói : « Sức của bạo lực chứ không phải sức mạnh của lẽ phải » ( Raison de la force ou force de la raison). Thường ra th́ sức mạnh của bạo lực không có bền lâu. Ngược lại, sức mạnh của lẽ phải, mặc dầu lúc đầu có vẻ yếu thế, nhưng về sau sẽ thắng thế và trở nên trường cửu.

    Chúng ta hăy xét lịch sử để thấy rơ. Vào đầu thế kỷ 13, ở phía bắc xứ Tàu, có dân tộc Mông cổ rất dũng mănh, gian ác, tàn bạo, đi ngựa giỏi, bắn cung hay, đúc kiếm tốt, cầm đầu bởi Thành cát tư hăn, đă chiến thắng từ Đông sang Tây, lập nên một đế quốc to lớn chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Tuy vậy, nhưng đă bị dánh bại 3 lần ở Việt Nam vào những năm 1257, 1284 và 1287.

    Mặc dầu chiến thắng lăy lừng, nhưng chiến thắng của Thành cát tư Hăn và con cháu cũng chỉ là chiến thắng của những kẻ man dại, như cả thế giới và sử gia sau này đều công nhận như vậy. Nh́n vào văn minh và văn hóa thế giới, đế quốc Mông Cổ không để lại một cái ǵ cho nhân loại, ngoài việc hiện nay chỉ c̣n là một nước nhỏ bé với 2 398 000 dân, đời sống c̣n lạc hậu, thấp kém, vẫn c̣n giữ tính chất bộ lạc của thời du mục.

    Thành cát tư Hăn có một câu nói bất hủ : « Thú vui duy nhất của đời ta là đi chiếm đất, chiếm nhà của người, lấy vợ người làm vợ ḿnh, lấy con người làm nô lệ cho ḿnh. » Câu nói này nó nói lên đầy đủ bản chất của những kẻ man dại, thích giết người cướp của, khác hẳn với những người văn minh, thích ḥa b́nh, tự tạo lập cho ḿnh.

    Từ đo, chúng ta xét bản chất của những người cộng sản. Thi sĩ Vũ hoàng Chương và nhà văn Dương thu Hương gọi những người cộng sản cũng là những loài man dại. Họ có lư. Bản chất của những người cộng sản cũng là ác ôn, côn đồ, giết người, cướp của. Sự khác biệt, đó là người cộng sản tự khoác lên ḿnh 2 cái áo đạo đức giả : chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc gia. Trong khi đó th́ Thành cát tư Hăn và dân Mông cổ lúc bấy giờ không dấu diếm, che dạy, nói thẳng cho mọi người biết là ta thích cướp của, giết người.

    Nhưng rồi sự thật vẫn là sự thật, mặc dầu được che dấu đén đâu chăng nữa ; bản chất man dại, cướp của, giết người của người cộng sản cũng lộ nguyên h́nh. Đó cũng là một trong những lư do chính đưa đến sự sụp đổ của đế quốc cộng sản vừa qua, ở Nga và ở Đông Âu. Những người đấu tranh cho văn hóa, văn minh, cho tự do, dân chủ, chống lại cái ǵ man dại, độc đoán độc tài ở Liên xô trước đây đă lấy câu trâm ngôn Nga làm kim chỉ nam : « Một lời nói sự thật nặng hơn quả địa cầu » để chống lại cái ǵ là tuyên truyền và nói láo của cộng sản, như Gorbatchev, cựu Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên sô, sau khi rời bỏ cộng sản, không ngần ngại và can đảm tuyên bó : « Mặc dầu tôi bỏ hơn 2/3 cuộc đời tranh đấu cho lư tưởng cộng sản ; nhưng ngày hôm nay, tôi phải đau đớn tuyên bố rằng : » Cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo ! »

    Những cái ǵ nói láo và tuyên truyền th́ không thể lâu bền. Nói như Abraham Lincolt : « Người ta có thể nói láo một lần, hai lần ; nhưng người ta không thể nói láo măi măi. Người ta có thể lừa gạt một người, hai người ; nhưng người ta không thể lừa gạt cả một dân tộc. »

    Dân tộc Việt Nam ngày hôm nay đă nh́n thấy rơ cái tuyên truyền, nói láo của cộng sản, ư thức rơ bản chất cái chiến thắng man dại. Chính v́ vậy, mà cái ǵ là văn hóa, văn minh đang từ từ chiến thắng lại những cái ǵ là man dại, phản văn hóa, văn minh, ở Việt Nam.

    Năm 1986, Phạm văn Đồng, Thủ tưóng cộng sản lúc bấy giờ có tuyên bố một câu bằng tiếng Pháp, khi tiếp xúc các nhà báo quốc tế : « Chúng tôi đă chiến thắng chiến tranh. Nhưng chúng tôi đang chiến bại ḥa b́nh. » ( Nous avons gagné la guerre. Mais nous sommes en train de perdre la paix.)

    Từ đó tới nay, chiến bại cộng sản trong ḥa b́nh đă quá rơ. Rơ trong việc cộng sản VN lệ thuộc ngoại bang, dâng đất, nhượng biển cho Trung Cộng. Rơ trong việc cộng sản « Bất tài, bất lực, bất lương », như lời ông Phạm quế Dương, cựu đại tá cộng sản, cựu chủ nhiệm tờ báo Nghiên cứu lịch sử Quân đội Nhân dân, v́ cộng sản đă đưa đất nước và dân tộc chúng vào chỗ tụt hậu, một trong những nước nghèo đói nhất thế giới, đạo đức bị suy đồi, kỷ cương bị băng hoại.

    Những người Việt tranh đấu cho văn hóa, văn minh, tự do, dân chủ, nhân quyền hăy tận nhân lực ! Rồi số phận sụp đổ của cộng sản Việt Nam sẽ sớm tới với chúng ta và dân tộc !

    Paris ngày 29 tháng 4 năm 2004

    Trực Ngôn Chu chi Nam

  • Trần Hưng Đạo & HCM

    CON NGƯỜI THÁNH NHÂN THƯƠNG DÂN YÊU NƯỚC TRẦN HƯNG ĐẠO VÀ CON NGƯỜI GIAN MANH QUỈ QUYỆT BUÔN DÂN BÁN NƯỚC HỒ CHÍ MINH

    Viết để tưởng nhớ Thầy Bu.

    Chu chi Nam

    Dân và lịch sử không bao giờ lầm, nhất là về lâu dài. Ai có công th́ được kính phục, tôn thờ nhiều khi được coi như thánh nhân, dân tự nhớ ơn làm ngày giỗ hàng năm. Ai có tội th́ bị phỉ nhổ ngàn đời.

    Những bạo chúa và chân tay bộ hạ thường bắt dân ca tụng, đúc tượng để thờ; nhưng khi bạo chúa bị hạ bệ hay chế độ của họ bị sụp đổ, th́ dân tự động hạ h́nh, vứt tượng xuống đất. Điển h́nh là dân Việt đă tự động tôn Trần hưng Đạo lên làm thánh nhân, hàng năm tự động làm lễ để ghi ân ngài, ngược lại những bạo chúa như Staline và Saddam Hussein mà chúng ta đă có dịp thấy phản ứng phẩn uất của dân trên truyền h́nh khi chế độ cộng sản Liên sô sụp đổ, khi Saddam Hussein bị hạ bệ.
    Người ta có thể nói Staline đă được chính quyền, các đảng cộng sản ca tụng nhiều nhất, nhưng rồi hành động đồ tể của ông, một trong những kẻ giết người đứng đầu thế giới, đă bị phơi bày, kết án. Sau khi đồ tể bị hạ bệ, không những dân Nga Sô oán ghét mà cả thế giới. Saddam Hussein của Irak cũng vậy, chỉ giờ trước giờ sau, khi bạo chúa chạy trốn, th́ dân Irak đă đạp h́nh, vứt tượng xuống đất. Ngày hôm nay chế độ cộng sản c̣n tồn tại ờ Việt Nam, bắt dân Việt phải tôn thờ Hồ chí Minh, nhưng ai cũng biết, nếu một ngày nào đó, chế độ này không c̣n, th́ người dân sẽ vứt h́nh, đạp tượng Hồ chí Minh. Người ta có thể nói ngay ngày hôm nay, người dân đă phỉ nhổ Hồ chí Minh qua những câu thơ, câu vè. Chưa bao giờ đất nước chúng ta có một nền văn chương truyền khẩu chửi chế độ như hiện nay.

    Thật vậy, đức Trần hưng Đạo quả thật là một vị thánh nhân thương dân yêu nước, tài dức, văn vơ kiêm toàn.

    Hưng đạo vương là một người danh tướng đệ nhất, đánh giặc Nguyên có công, được phong làm Thái sư, Thượng phụ, Thượng quốc công, B́nh Bắc đại nguyên súy, Hưng đạo đại vương....... Hưng đạo đại vương thực là hết ḷng với vua, với nước, tuy rằng có quyền uy lừng lẫy, mà vẫn giữ chức phận làm tôi, không làm điều ǵ kiêu ngạo. Đang khi quân Nguyên quấy nhiễu, ngài cầm binh quyền, Thánh tông, Nhân tông cho ngài được chuyên quyền phong tước: trừ ra từ tước hầu trở xuống, cho ngài được phong trước rồi mới tâu sau. Thế mà ngài không dám tự tiện phong thưởng cho ai cả; phàm những nhà giàu mà ngài quyên tiền gạo để cấp cho quân ăn, ngài chỉ phong cho làm giả lang tướng mà thôi, nghĩa là tướng cho vay lương. Ngài cẩn thận như thế và ở với ai cũng thật là công chính cho nên đến khi ngài mất, từ vua cho chí bách tính ai cũng thương tiếc. Nhân dân nhiều nơi lập đền thờ phụng để ghi nhớ cái công đức của ngài (Trần trọng Kim - Việt Nam Sử lược trang 160, 161 Nhà Xuất bản Tân Việt Sài g̣n).

    Trần hưng Đạo tên thật là Trần quốc Tuấn, con của An sinh vương Trần Liễu, cháu gọi vua Trần thái Tông là chú ruột, quê làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Sử ghi Trần hưng Đạo mất ngày3 tháng 9 năm 13000 Dương lịch. Ngày sinh của ngài không rơ, nhưng sử gia cho rằng ngài sinh vào năm 1232.

    Khi quân Mông cổ xâm lăng nước ta lần thứ nhất vào năm 1257, Trần hưng Đạo mới khoảng 25 tuổi và là một viên tướng nhỏ, có nhiệm vụ cầm quân án ngữ ở biên thùy phía bắc. Ba chục năm sau, khi quân Mông cổ xâm chiếm nước ta lần thứ 2 (1285) và lần thứ 3 (1287), Trần hưng Đạo được phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đôi quốc gia để chống giặc. Quân Mông cổ là quân mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, vó ngựa của chúng dẵm nát từ châu Á sang châu Âu, lập nên một đế quốc có thể nói là lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Lực lượng chúng huy động vào xâm lược đất nước chúng ta rất đông đảo và được chỉ huy bởi những tướng lừng danh trên thế giới, bách chiến, bách thắng, đặt duói sự chỉ huy của Thoát Hoan, thái tử Mông cổ. Thế lực quân Mông cổ cả hai lần đều rất mạnh, làm nhiều người nao núng, ngay cả vua Trần nhân Tôn, vào làn thứ hai, cũng lưỡng lự: Hay ta tạm hàng để cứu muôn dân !. Trần hưng Đạo đă khẳng khái trả lời: Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hăy chém đầu thần trước đă ! Trần hưng Đạo đă dùng chiến lược đoản trận đánh với trường trận. Ngài biết quân địch giỏi ở trận thế dài và rộng, v́ quân Mông cổ lúc bấy giờ đúng đầu về đi ngựa, đấu kiếm và bắn cung. Nay ngài dụ quân địch vào ngơ hẹp, chia quân địch ra mà đánh tùng khúc một. Đó là đoản trận. Trong cuộc phản công lần thứ nh́ 1285, ngài chém đầu Toa Đô, nguyên soái quân Mông cổ và khiến thái tử Thoát Hoan phải chui vào ống đồng chạy trốn về Tàu. Lần thứ ba, 1287, Thoát Hoan phải cuống cuồng chạy trốn mới thoát mạng, phần lớn các tướng Mông cổ hoặc bị chém đầu, hoặc bị bắt sống. Trần hưng Đạo là tướng đầu tiên trên thế giới đánh bại quân Mông cổ, bách chiến bách thắng ở mọi nơi trên thế giới vào lúc bấy giờ.

    Ngoài về sự nghiệp quân sự, Trần hưng Đạo c̣n có tài về văn học. Sách cũ ghi lại, ngay từ lúc 7 tuổi, ngài đă biết làm thơ. Ngoài việc là tác giả bản Hịch Tướng sĩ nổi tiếng, ngài c̣n là tác giả hai quyển sách về tư tưởng quân sự Binh Thư Yếu Lược và Vạn Kiếp Bí truyền.

    Đó là con người Trần hưng Đạo, so với con người Hồ chí Minh th́ hoàn toàn trái ngược.

    Hồ chí Minh con người gian manh, quỷ quyệt, ăn gian, nói dối vừa bẩm sinh, vừa tập thành.

    Thật vậy người ta có thể nói Hồ chí minh là con người gian dối bẩm sinh. Ngay đến ngày sinh cũng dấu. Ngày hôm nay người ta biết đại khái là họ Hồ sinh vào khoảng năm 1890, tại làng Kim liên, huyện Nam đàn, tỉnh Nghệ an. Hồ chí Minh có 50 tên khác nhau, không thừa nhận gia đ́nh, đối xử tệ bạc với anh chi. Hô Chí Minh rời Việt Nam năm 1911, làm phụ bếp trên một chiếc tàu Pháp, đi t́m đường nuôi thân, thế mà chính họ Hồ trong quyển Cuộc Đời Hồ chí Minh tác giả là Trần dân Tiến, chính thực là Hồ chí Minh, là đảng cộng sản Việt nam quỷ quyệt, gian manh, nói dối là đi t́m đường cứu nước, sự thực là t́m đường cứu thân, v́ đă viết thư với lời lẽ tâng bốc nước đại Pháp xin vào học Trường Thuộc địa (Ecole des Colonies) nay trở thành Viện Quốc tế Hành chánh (Institut international d'administration publique) ở đại lộ Observatoire, Paris 6e.. Vào năm 1912 từ New York, ông đă viết thư cho Khâm sai Pháp ở Huế xin cho cha một công việc như thừa biện ở các bộ hoặc huấn đạo hay quản giáo với lời lẽ van xin, quỵ lụy viên quan Pháp này. Tên Nguyễn ái Quốc là tên họ Ho ăn cắp từ tên chung mà các cụ Phan chu Trinh, Phan văn Trường và Nguyễn thế Truyền dùng để viết báo chung ở bên Pháp. Tên Hồ chí Minh là tên ăn cắp từ một người khác ở bên Tàu. Năm 1920, họ Hồ đi theo Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, mặc dầu chưa phân biệt nổi Đệ Nhị và Đệ Tam. Vào những năm 20, cụ Phan bội Châu cũng được những đại diện của Đệ Tam Quốc tế gặp để chiêu dụ; nhưng cụ từ chối v́ nếu chấp nhận những điều kiện của tổ chức này có nghĩa là từ bỏ quốc gia, dân tộc. Ngược lại Hồ chí Minh lại chấp nhận và tự nguyện trở thành một đồ đệ mù quáng, trung thành; miễn sao thực hiện được tham vọng của ḿnh, theo đúng trường phái cộng sản Staline, cứu cánh biện minh cho phương tiện; dùng bất cứ phương tiện nào để thực hiện được mục đích ḿnh mong muốn, ngay dù vô đạo đức, phản luân lư, phản quốc gia, dân tộc.

    Ngoài việc gian dối bẩm sinh, Hồ chí Minh c̣n gian dối tập thành, được huấn luyện để trở thành gian dối. Sau khi theo Đệ Tam Quốc Tế, ông theo học trường Cộng sản Đông Phương, mà chương tŕnh học phần chính là nói dối và phá hoại. Để được chấp nhận vào học, chỉ cần có chứng chỉ làm việc 2 năm ở một hăng xưởng. Bài học đầu tiên của trường là học tṛ phải học nói dối: mỗi học viên phải tự làm cho ḿnh 3 phiếu lư lịch khác nhau và phải học thuộc ḷng, để tùy cơ nói dối. Chương tŕnh học sau đó có lư thuyết Mác Lê, một cách tóm lược và sơ khai, mà Hồ chí Minh đă sao chép lại trong quyển sách Đường Kách Mạng của ông. Phần chính c̣n lại là học tổ chức bất hợp pháp, lén lút phá hoại, nói một cách khác đi là học phá hoại, giết người, không coi luật pháp và đạo đức là ǵ cả.

    Hồ chí Minh, con người vọng ngoại chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam và thế giới.

    Được Đệ Tam Quốc Tế phái về Việt Nam để cướp chính quyền, vào đâu những năm 40, họ Hồ sống ở Bắc Bó, và đă đặt tên núi là núi K. Marx và suối là suối Lénine, ở nơi đây. Ngay cả lúc gần chết, viết di chúc, họ Hồ cũng chỉ mơ ước được gặp các cụ Mác và Lê, chứ không muốn gặp những vị anh hùng của dân tộc. Nếu chúng ta đọc lịch sử những nước cộng sản trên thế giới từ Đông âu, qua Trung cộng, Bắc Hàn, Cuba, chúng ta cũng không thấy một lănh tụ cộng sản nào vọng ngoại như Hồ chí Minh.

    Hồ chí Minh, con người bán nước.

    Ngày hôm nay, người ta nghĩ chỉ có Lê khả Phiêu bán nước với hai Hiệp Định 1999 va 2000 kư với Trung Cộng về lănh thổ và lănh hải, dâng cho Trung cộng gần 800 km2 lănh thổ trong đó có ải Nam quan và thác Bản giốc; cùng 16 000 km2 vùng biển bắc Việt. Thực ra việc dâng đất cho Tàu đă có từ thời họ Hồ c̣n sống. Vào năm 1953, khi sửa đường xe lửa ở vùng biên giới Việt-Hoa, Trung cộng đă tự động rời một số cột mốc về phía nam, xâm lấn nước ta. Hồ chí Minh và đảng CS VN có phản đối trên báo chí thời đó. Nhưng phản đối cho có lệ.

    Ngày 4/9/1958, Trung cộng yêu sách quyền hải phận 12 hải lư, chỉ 10 ngày sau, tức ngày 14/9/1958, Phạm văn Đồng, Thủ tướng lúc bấy giờ, theo lệnh của Hồ chí Minh và Bộ Chính trị đảng Cộng Sản VN, đă gửi 1 bức thư cho Chu ân Lai, Tổng Lư Quốc Vụ Viện Trung Cộng, tương đương với thủ tướng, thoả măn yêu sách của Trung Cộng, có nghĩa là gián tiếp dâng 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa cho Trung Cộng.

    Hồ chí Minh, con người đưa dân tộc và đất nước vào ṿng trầm luân, khổ ải

    Ngày 19/8/1945, lợi dụng cuộc biểu t́nh của công chức Hà nội đ̣i tăng lương, Hồ chí Minh và đảng Cộng sản đă gửi người trà trộn vào đoàn biểu t́nh, đi đến chỗ cướp các công sở và cước chính quyền. Ngày 2/9/1945, Hồ chí minh tuyên bố Độc Lập. Nhưng thực tế là Hồ chí Minh đă làm hành động Đuổi hổ của trước, rồi dắt báo vào cửa sau, chính thức đặt Việt Nam duói gông cùm đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, đặt Việt Nam vào cuộc tranh hùng tư bản cộng sản, đưa dân Việt từ trận chiến này qua trận chiến khác. Không những ngoại chiến mà c̣n nội chiến, chủ trương bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, đưa đến cảnh con đấu bố, vợ tố chồng, bạn bè t́m cách sát hại lẫn nhau. Dân Việt từ 1945 tới nay, chưa bao giờ lầm than như dưới thời cộng sản. Dân Việt đă phải chịu cảnh đô hộ không biết bao lần, nào đô hộ Tàu, đô hộ Pháp, đô hộ Nhật; nhưng chưa bao giờ dân phải bỏ nước ra đi cả triệu người, và không phải một lần, mà 2 lần, như dưới thời đô hộ cộng sản.

    Theo Tôn Tử, một nhà tư tưởng quân sự của Tàu cách đây 2 500 năm: Việc binh như việc lửa, dùng lâu ngày sẽ có hại vào thân...Việc binh kéo dài mà có lợi cho nước chưa từng có vậy (Tôn Ngô Binh Pháp - Ngô văn Triện dịch-trang 41). Hồ chí Minh chỉ nghĩ đến tham vọng cá nhân, thi hành bao cuộc chiến, mặc cho nước lầm than, dân phơi thây ngoài chiến trường, nhân lực và tài lực quốc gia khánh kiệt. Ở điểm này, so với đức Trần hưng Đạo, chúng ta mới thấy ngài yêu dân thương nước. Lời trăn trối cuối cùng của ngài cho vua Trần anh Tông là một bài học thương dân, yêu nước vô cùng quư giá: Làm thế nào thu hút được quân lính như cha con một nhà mới có thể dùng để chiến thắng được. Và phải khoan dùng sức dân để làm cái kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước, không c̣n ǵ hơn (Trần hưng Đạo- Binh Thư Yếu Lược- trang 23 nhà xuất bản Quê Mẹ Paris 1988). Khi chúng ta đọc ngài luận về tướng, chúng ta mới thấy rơ sự khác biệt giữa ngài và Hồ chí Minh. Ngài viết:

    Khí lượng của tướng, lớn nhỏ khác nhau. Tướng mà che điều gian, giấu điều họa,không nghĩ đến quần chúng oán ghét, đó là tướng chỉ huy mười người. Tướng mà dậy sớm khuya nằm, lời lẽ kín đáo, đó là tướng chỉ huy được trăm người. Tướng thẳng mà biết lo, mạnh mà giỏi đánh, đó là tướng chỉ huy được ngàn người. Tướng mà ngoài mặt hăm hở, trong ḷng ân cần, biết người khó nhọc, thương kẻ đói rét, đó là tướng chỉ huy được vạn người. Tướng mà gần người hiền, tiến người tài, ngày thường cẩn thận, thành thực, rộng răi, giỏi việc dẹp loạn, đó là tướng chỉ huy được mười vạn người. Tướng mà dùng nhân ái đối với kẻ dưới, lấy tín nghĩa phục nước làng giềng, trên biết thiên văn, dưới biết địa lư, giữa biết việc người, coi bốn bể như một nhà, đó là tướng chỉ huy cả thiên hạ, không ai địch được (Sách đă dân-trang 15).

    Hồ chí Minh quả thật là người tướng che điều gian, giấu điều họa, không nghĩ đến quần chúng oán ghét. Hơn thế nữa ông c̣n đày ải dân, bán nước, ông là một tội đồ của dân tộc, tội lớn hơn cả Mạc đăng Dung, Lê chiêu Thống. Trái lại, đức Trần hưng Đạo quả là một người từng yêu dân, thương nước, trên biết thiên văn, dưới biết địa lư, ngài quả là một vị tướng chỉ huy thiên hạ, không ai địch nổi.

    Thế mà Hồ chí Minh lại hổn xược với ngài, gọi ngài bằng bác, xưng tôi, trong khi đó lại gọi Lénine, K. Marx là cụ. Năm 1945, khi viếng thăm viếng đền đức Thánh Trần, Hồ chí Minh đă đọc một bài thơ hổn xược như sau. Bài thơ này có người bảo không do ông làm ra, nhưng dù sao ông cũng đă đọc trong một dịp quan trọng, cũng nói lên cái tư cách hổn xược, tính ngông cuồng của Hồ chí Minh:

    Cũng cờ cũng kiếm cũng anh hùng

    Tôi bác chung nhau nợ núi sông.

    Bác phá quân Nguyên thanh kiếm bạc,

    Tôi trừ giạc Pháp ngọn cờ hồng.

    Bác có anh linh cười một tiếng,

    Mừng tôi cách mạng đă thành công !

    Trần trọng Kim khi nhận xét về người Việt, có viết:

    Về đường trí tuệ và tính t́nh, th́ người Việt Nam có cả tính tốt lẫn tính xấu. Đại khái th́ trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quư sự lễ phép, mến điều đạo đức, lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy nhiên vẫn có tính tinh vặt, cũng có khi quỉ quyệt, và hay bài bác, chế nhạo. Thường th́ nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự ḥa b́nh, nhưng mà đă đi đến trận mạc, th́ cũng có can đảm, biết giữ kỉ luật. (Trần trọng Kim Việt Nam sử Lược trang 18 Nhà xuất bản Tân Việt Sài G̣n).

    Chúng ta có thể nói đức Trần hưng Đạo và các tướng tá nhà Trần, từ trần Quang Khải, Trần b́nh Trọng tới Phạm ngũ Lăo, là kết tinh của tất cả những ǵ là tính tốt của dân Việt. Chính v́ vậy mà triều đại nhà Trần là một trong những triều đại vẻ vang, thịnh trị, dân sống an b́nh và hạnh phúc nhất. Ngược lại Hồ chí Minh và tay chân, bộ hạ trong đảng Cộng Sản là kết tinh tất cả những ǵ xấu xa của dân Việt. V́ vậy triều đại Hồ chí Minh là triều đại đen tối, bạo trị, dân sống đau khổ, lầm than chưa từng có trong lịch sử Việt.

    Paris ngày 21/03/2004

    Trực ngôn Chu chi Nam

  • CHÍNH SÁCH ĐÀN ÁP TÔN GIÁO CỦA NHỮNG CHÍNH QUYỀN CỘNG SẢN

    CHÍNH SÁCH ĐÀN ÁP TÔN GIÁO CỦA NHỮNG CHÍNH QUYỀN CỘNG SẢN, ĐẶC BIỆT LÀ CỘNG SẢN VIỆT NAM

    Chu chi Nam

    I) Quan niệm về tôn giáo của K. Marx

    1) Về vấn đề tôn giáo, K. Marx bị ảnh hưởng xâu đậm bởi Feuerbach, một triết gia duy vật quan niệm tất cả mọi vật đều thâu tóm về vật chất. Nhưng rốt cục chủ nghĩa duy vật cũng chỉ là một chủ nghĩa duy ư trá h́nh, thay v́ cho rằng ư tưởng tạo ra mọi vật, th́ nay cho rằng vật chất sinh ra vạn vật, cuối cùng chỉ đi vào ṿng luẩn uẩn Con gà để ra cái trứng hay cái trứng đẻ ra con gà, câu hỏi mà những nhà khoa học thực sự, trước ngay cả Marx, đă từ chối bàn căi, v́ họ biết rằng khoa học không đủ bằng cớ để có một câu trả lời thoả đáng. Trái lại, những nhà duy vật không co cái khiêm nhượng đó, đă thản nhiên xác nhận vật chất sinh ra vạn vật.

    2) Quan niệm quá khích của Feuerbach về vấn đề tôn giáo, khi ông muốn biến con người thành thiên thần, thành Thượng Đe, ông viết: Khúc quanh lớn của lịch sử nhân loại là lúc mà nhân loại ư thức được rằng Thượng Đế của con người chính là con người vậy.. Nhưng khi suy nghĩ kỹ về những hậu quả của cộng sản trong thế kỷ qua, người ta thấy quan niệm trên của Feuerbach không làm cho con người, nhân loại trở nên thần thành, Thượng Đế, mà chỉ mở cửa độc đoán, độc tài cho những người lănh đạo cộng sản muốn làm ǵ th́ làm, ngay cả việc bỏ tù, giết người vô duyên cớ, biến dân sống duói sự thống trị của họ thành nạn nhân, đưa đến thảm trạng của thế 20 vừa qua là gần 100 triệu người chết v́ những giới lănh đạo CS tự cho ḿnh là thần thánh, là Thượng Đế.

    3) Quan niệm đơn giản của Marx cho rằng Thượng Đế là h́nh ảnh ngược lại (image renversée ) của con người khốn cùng.

    II) Những chính sách tôn giáo của những đồ đệ của Marx

    1) Theo Lénine th́ tôn giáo là thuốc phiện của dân.

    2) Theo Mao trạch Đông: Khổng Tử là con chó giữ nhà của phong kiến.

    3) Cộng sản VN th́ gọi Thượng Đế là thằng qua những câu thơ sau đây:

    Bàn tay lao động tuyệt vời,

    Gọi đất dạ, chỉ Trời, Trời vâng.

    Thằng Trời ngồi đó chớ ra,

    Để cho nông hội đứng trên thằng Trời,

    Thằng Trời hăy ngồi đó chơi,

    Để cho nông hội thay Trời làm mưa.

    III) Những hành động đàn áp tôn giáo của CSVN

    1) Đàn áp Phật giáo

    2) Đàn áp Thiên Chú giáo

    3) Đàn áp Ḥa hảo

    4) Đàn áp Cao Đài và Tin Lành.

    IV) Kết luận:

    Tôn giáo là một phần của văn hóa, văn minh của con người, nếu không muốn nói chính là văn minh như Huntington nói. Ở đây chúng ta thấy một sự sai lầm to lớn của K. Marx trong việc chủ trương băi bỏ tôn giáo, chính là băi bỏ văn hóa và văn minh.

    Âu châu ngày 18/03/03

    Chu chi Nam

Footer:

The content of this website belongs to a private person, blog.co.uk is not responsible for the content of this website.